Trước hạn chót 3 ngày, còn 182 cửa hàng bán lẻ xăng dầu chưa xuất hoá đơn điện tử
Tại cuộc họp báo quý 1/2024 của Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế cho biết đến 28/3, toàn quốc có 15.762 cửa hàng bán lẻ xăng dầu thực hiện phát hành hoá đơn điện tử từng lần, đạt khoảng 98,9%…
Theo ông Mai Sơn, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế, trong bối cảnh thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường gây tác động ảnh hưởng đến giá cả và nguồn cung xăng dầu thế giới và trong nước, nhiều doanh nghiệp, cửa hàng kinh doanh, bán lẻ xăng dầu chưa thực hiện nghiêm quy định. Song song, hoạt động buôn lậu, gian lận thương mại trong lĩnh vực xăng dầu còn tiềm ẩn nguy cơ diễn biến phức tạp…
Do đó, Bộ Tài chính chỉ đạo cơ quan thuế phối hợp với cơ quan công an và các cơ quan liên quan khác đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện quy định về hoá đơn điện tử, lập hoá đơn điện tử tại các cửa hàng kinh doanh, bán lẻ xăng dầu theo đúng quy định của pháp luật.
Tổng cục Thuế nhấn mạnh: theo quy định, thời điểm lập hoá đơn điện tử đối với trường hợp bán xăng dầu tại các cửa hàng bán lẻ cho khách hàng là thời điểm kết thúc việc bán xăng dầu theo từng lần bán.
Người bán phải đảm bảo lưu trữ đầy đủ hoá đơn điện tử đối với trường hợp bán xăng dầu cho khách hàng là cá nhân không kinh doanh, cá nhân kinh doanh và đảm bảo có thể tra cứu khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu.

“Đến ngày 28/3, toàn quốc có 15.762 cửa hàng bán lẻ xăng dầu thực hiện phát hành hoá đơn điện tử từng lần bán hàng, đạt khoảng 98,9% tổng số cửa hàng bán lẻ xăng dầu. Hiện còn 182 cửa hàng đang trong quá trình thực hiện, chiếm 1,1%”.
Về kết quả thực hiện triển khai, lãnh đạo Tổng cục Thuế, cho biết trong các địa phương, đã có 59/63 địa phương đạt tiến độ trên 90%, 40 địa phương hoàn thành 100% tiến độ. Theo báo cáo của các cục thuế, dự kiến đến hết ngày 31/3 về cơ bản các cửa hàng xăng dầu trên cả nước sẽ thực hiện phát hành hoá đơn điện tử theo từng lần bán hàng.
Cũng theo ông Mai Sơn, thời gian qua, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao nhiệm vụ uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố chỉ đạo lực lượng chức năng xem xét xử lý các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu, nếu hết ngày 31/3/2024 không thực hiện quy định về hoá đơn điện tử sẽ yêu cầu tạm dừng hoạt động kinh doanh và thu hồi giấy phép, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh theo quy định của pháp luật.
Chỉ đạo này thể hiện sự quyết liệt của người đứng đầu Chính phủ về việc tăng cường các biện pháp quản lý mặt hàng xăng dầu, thực hiện nghiêm quy định về hoá đơn điện tử đối với hoạt động kinh doanh, bán lẻ xăng dầu.
Tại từng địa phương, cơ quan thuế chủ trì tham mưu uỷ ban nhân dân chỉ đạo và chủ động phối hợp chặt chẽ với các sở, ngành liên quan đẩy mạnh và đa dạng hóa các biện pháp, giải pháp tuyên truyền đến người nộp thuế về lợi ích của việc phát hành hóa đơn điện tử từng lần bán hàng tại các cửa hàng kinh doanh xăng dầu và các hình thức xử phạt đối với hành vi vi phạm.
Cơ quan thuế cũng trao đổi, làm việc với các đơn vị kinh doanh xăng dầu trên địa bàn, doanh nghiệp cung cấp giải pháp để chia sẻ kinh nghiệm triển khai thành công và thảo luận giải pháp hiệu quả cho doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu quản lý của cơ quan nhà nước về kinh doanh xăng dầu, quy định về hóa đơn, chứng từ.
Đồng thời, thành lập các đoàn công tác liên ngành làm việc trực tiếp với các đơn vị kinh doanh bán lẻ xăng dầu, nắm bắt thực trạng, xây dựng kế hoạch triển khai, tháo gỡ khó khăn vướng mắc gắn với từng địa bàn, doanh nghiệp, cửa hàng bán lẻ xăng dầu.
Cơ quan thuế phân công nhiệm vụ, giao chỉ tiêu đến từng cán bộ, công chức làm việc trực tiếp với từng cửa hàng bán lẻ xăng dầu; gắn trách nhiệm kiểm tra, giám sát thực hiện với việc bình xét thi đua…
Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế tiếp tục chỉ đạo cơ quan thuế chủ trì tham mưu uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố chỉ đạo tăng cường, kiểm tra, giám sát các cửa hàng xăng dầu nhằm đảm bảo triển khai thực hiện hoá đơn điện tử theo từng lần bán hàng. Trường hợp vi phạm sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.
| Số/Ký hiệu | 69/2023/NĐ-CP |
| Cơ quan ban hành | Chính phủ |
| Loại văn bản | Nghị định |
| Người ký | Trần Lưu Quang |
| Ngày ban hành | 14/09/2023 |
| Ngày hiệu lực | 14/09/2023 |
| Ngày hết hiệu lực | |
| Hiệu lực văn bản | Còn hiệu lực |
| CHÍNH PHỦ ——- |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ————— |
| Số: 69/2023/NĐ-CP | Hà Nội, ngày 14 tháng 9 năm 2023 |
NGHỊ ĐỊNH
SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 159/2020/NĐ-CP NGÀY 31 THÁNG 12 NĂM 2020 VỀ QUẢN LÝ NGƯỜI GIỮ CHỨC DANH, CHỨC VỤ VÀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN PHẦN VỐN NHÀ NƯỚC TẠI DOANH NGHIỆP
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 19 tháng 6 năm 2015; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 22 tháng 11 năm 2019;
Căn cứ Luật Doanh nghiệp ngày 17 tháng 6 năm 2020;
Căn cứ Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp ngày 26 tháng 11 năm 2014;
Căn cứ Luật Cán bộ, công chức ngày 13 tháng 11 năm 2008;
Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức ngày 25 tháng 11 năm 2019;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nội vụ;
Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 159/2020/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2020 về quản lý người giữ chức danh, chức vụ và người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 159/2020/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2020 về quản lý người giữ chức danh, chức vụ và người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp
- Sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 3 như sau:
“3. Tập thể lãnh đạo doanh nghiệp bao gồm Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty và ban thường vụ cấp ủy cùng cấp (đối với tổ chức đảng cấp trên cơ sở) hoặc cấp ủy cùng cấp (đối với tổ chức đảng cấp cơ sở).”.
- Sửa đổi điểm b khoản 1 Điều 6 như sau:
“b) Quyết định quy hoạch Chủ tịch Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty;”.
- Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 10 như sau:
“2. Đối với người quản lý doanh nghiệp nhà nước, Kiểm soát viên, người đại diện phần vốn nhà nước là đảng viên thì đánh giá, xếp loại chất lượng đảng viên trước; đánh giá, xếp loại chất lượng quản lý sau. Trường hợp không đạt kết quả thực hiện chỉ tiêu, nhiệm vụ công tác được giao trong năm theo kết quả đánh giá, xếp loại chất lượng quản lý thì cấp có thẩm quyền căn cứ các tiêu chí đánh giá, xếp loại chất lượng xem xét, quyết định lại mức đánh giá, xếp loại chất lượng đảng viên.”.
- Sửa đổi Điều 18 như sau:
“Điều 18. Nguyên tắc, điều kiện thực hiện quy hoạch
- Bảo đảm nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ; thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước; bảo đảm chặt chẽ, đồng bộ, liên thông, công khai, minh bạch; quy hoạch chức vụ, chức danh lãnh đạo, quản lý phải đồng bộ với quy hoạch cấp ủy trong doanh nghiệp; quy hoạch cấp dưới làm cơ sở cho quy hoạch cấp trên.
- Mỗi giai đoạn 05 năm chỉ xây dựng quy hoạch một lần và định hướng cho giai đoạn kế tiếp. Xây dựng quy hoạch giai đoạn kế tiếp được thực hiện vào năm thứ hai của giai đoạn hiện tại. Hàng năm tiến hành rà soát, bổ sung quy hoạch cho quy hoạch giai đoạn hiện tại và giai đoạn kế tiếp trong quý I và báo cáo kết quả phê duyệt quy hoạch trong quý II, chậm nhất vào tháng 6; trường hợp rà soát, bổ sung quy hoạch lần thứ 2 trong năm phải báo cáo ít nhất sau 30 ngày, kể từ ngày được cấp có thẩm quyền quyết định phê duyệt quy hoạch.
- Nhân sự được xem xét để đưa vào quy hoạch:
- a) Về tiêu chuẩn đối với nhân sự quy hoạch, cơ bản thực hiện như tiêu chuẩn bổ nhiệm đối với chức danh quản lý. Tại thời điểm quy hoạch, cấp có thẩm quyền có thể xem xét, phê duyệt quy hoạch đối với trường hợp cơ bản đáp ứng các tiêu chuẩn, điều kiện của chức danh bổ nhiệm theo quy định.
Đối tượng 1 phải đáp ứng tiêu chuẩn lý luận chính trị tương ứng của chức danh bổ nhiệm; đối tượng 2 có thể chưa bảo đảm tiêu chuẩn lý luận chính trị nhưng sau khi được quy hoạch phải có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng để hoàn thiện theo quy định.
Đối tượng 1 và đối tượng 2 của các chức vụ, chức danh được xác định theo quy định của cấp có thẩm quyền.
- b) Về độ tuổi, nhân sự được quy hoạch giai đoạn kế tiếp phải đủ tuổi công tác 02 nhiệm kỳ trở lên, ít nhất phải trọn thời hạn bổ nhiệm 01 lần kế tiếp. Khi rà soát, bổ sung quy hoạch hàng năm cho giai đoạn hiện tại, nhân sự đưa vào quy hoạch phải còn đủ tuổi công tác ít nhất từ 72 tháng trở lên. Thời điểm tính tuổi quy hoạch thực hiện theo quy định của cấp có thẩm quyền.
- c) Đối với nhân sự đang giữ chức vụ, chức danh quản lý thì chỉ quy hoạch vào chức vụ, chức danh cao hơn.
- Nhân sự quá tuổi quy hoạch hoặc bị kỷ luật bằng hình thức khiển trách trở lên hoặc bị cấp có thẩm quyền kết luận không bảo đảm tiêu chuẩn chính trị của chức danh quy hoạch thì đương nhiên ra khỏi quy hoạch.
- Cơ quan đại diện chủ sở hữu xây dựng quy hoạch, kế hoạch bố trí nhân sự làm Kiểm soát viên, xác định chức vụ, chức danh tương đương Kiểm soát viên và tổ chức thực hiện theo thẩm quyền.”.
- Sửa đổi khoản 1 Điều 23 như sau:
“1. Trên cơ sở kết quả giới thiệu nguồn quy hoạch tại các bước trong quy trình; căn cứ vào tiêu chuẩn, điều kiện, cơ cấu, số lượng theo quy định, cơ quan tham mưu về tổ chức, cán bộ rà soát, tổng hợp, báo cáo tập thể lãnh đạo doanh nghiệp thảo luận và bỏ phiếu kín quyết định nhân sự được quy hoạch cho từng chức danh. Một chức danh lãnh đạo quản lý quy hoạch không quá 03 người; không quy hoạch 01 người vào quá 03 chức danh”.
- Sửa đổi Điều 26 như sau:
“Điều 26. Hồ sơ quy hoạch
- Tờ trình về việc đề nghị phê duyệt quy hoạch và bảng tổng hợp kết quả kiểm phiếu ở các bước do người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ký.
- Sơ yếu lý lịch do cá nhân tự khai theo quy định hiện hành, được cấp có thẩm quyền xác nhận, có dán ảnh màu khổ 4×6 cm, chụp trong thời gian không quá 06 tháng.
- Nhận xét, đánh giá của Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty; nhận xét, đánh giá của cấp ủy cùng cấp về phẩm chất đạo đức, lối sống, ý thức tổ chức kỷ luật, đoàn kết nội bộ; năng lực công tác và kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; uy tín và triển vọng phát triển.
- Kết luận của cấp ủy có thẩm quyền về tiêu chuẩn chính trị.
- Bản kê khai tài sản, thu nhập theo mẫu quy định.
- Bản sao các văn bằng, chứng chỉ theo yêu cầu của tiêu chuẩn chức danh quy hoạch. Trường hợp nhân sự có bằng tốt nghiệp do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp thì phải được công nhận tại Việt Nam theo quy định.”.
- Sửa đổi Điều 28 như sau:
“Điều 28. Điều kiện bổ nhiệm
- Bảo đảm tiêu chuẩn, điều kiện chung theo quy định của Đảng, Nhà nước và tiêu chuẩn, điều kiện cụ thể của chức vụ, chức danh bổ nhiệm theo quy định của cơ quan có thẩm quyền.
- Đối với nhân sự từ nguồn tại chỗ phải được quy hoạch vào chức vụ, chức danh bổ nhiệm hoặc được quy hoạch chức vụ, chức danh tương đương trở lên. Đối với nhân sự nguồn từ nơi khác phải được quy hoạch vào chức vụ, chức danh tương đương trở lên. Trường hợp đặc biệt do cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.
Trường hợp doanh nghiệp mới thành lập chưa thực hiện việc phê duyệt quy hoạch thì do cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.
- Có hồ sơ, lý lịch cá nhân, bản kê khai tài sản, thu nhập theo quy định.
- Tuổi bổ nhiệm:
- a) Nhân sự được đề nghị bổ nhiệm lần đầu giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý hoặc đề nghị bổ nhiệm giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý cao hơn thì phải đủ tuổi để công tác trọn thời hạn bổ nhiệm. Thời điểm tính tuổi bổ nhiệm thực hiện theo quy định của cấp có thẩm quyền.
Trường hợp đặc biệt do cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.
- b) Nhân sự được điều động, bổ nhiệm giữ chức vụ mới tương đương hoặc thấp hơn chức vụ đang giữ thì không tính tuổi bổ nhiệm theo quy định tại điểm a khoản này.
- Đủ sức khỏe để hoàn thành nhiệm vụ được giao.
- Không thuộc các trường hợp bị cấm đảm nhiệm chức vụ theo quy định của pháp luật.
- Không trong thời hạn xử lý kỷ luật, đang bị điều tra, truy tố, xét xử. Trường hợp doanh nghiệp đang trong thời gian cơ quan có thẩm quyền thanh tra, kiểm tra thì cấp có thẩm quyền trao đổi với cơ quan thanh tra, kiểm tra về nhân sự được đề nghị bổ nhiệm trước khi quyết định.
- Có thời gian giữ chức vụ đang đảm nhiệm hoặc chức vụ tương đương tối thiểu là 02 năm (24 tháng), nếu không liên tục thì được cộng dồn (chỉ cộng dồn đối với thời gian giữ chức vụ tương đương). Trường hợp đặc biệt do cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.
- Người quản lý doanh nghiệp bị kỷ luật trong thời gian giữ chức vụ thì không bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử vào chức vụ cao hơn trong thời hạn theo quy định của cấp có thẩm quyền.”.
- Sửa đổi Điều 30 như sau:
“Điều 30. Trình tự, thủ tục thực hiện bổ nhiệm đối với nguồn nhân sự tại chỗ
- Đề xuất cơ cấu, tiêu chuẩn, điều kiện, quy trình:
Trên cơ sở chủ trương của cấp có thẩm quyền, yêu cầu nhiệm vụ và nguồn nhân sự trong quy hoạch, tập thể lãnh đạo doanh nghiệp họp thảo luận và đề xuất về cơ cấu, tiêu chuẩn, điều kiện, quy trình giới thiệu nhân sự.
- Trình tự bổ nhiệm được thực hiện như sau:
Quy trình bổ nhiệm đối với nguồn nhân sự tại chỗ gồm 5 bước; các hội nghị chỉ được tiến hành khi có ít nhất 2/3 số người được triệu tập có mặt. Cụ thể như sau:
- a) Bước 1: Hội nghị tập thể lãnh đạo doanh nghiệp (lần 1)
Trên cơ sở chủ trương bổ nhiệm, yêu cầu nhiệm vụ của doanh nghiệp và nguồn nhân sự trong quy hoạch, tập thể lãnh đạo thảo luận, thống nhất về cơ cấu, số lượng, tiêu chuẩn, điều kiện, quy trình giới thiệu nhân sự; đồng thời, tiến hành rà soát kết quả đánh giá, nhận xét đối với từng nhân sự trong quy hoạch (gồm cá nhân sự được quy hoạch chức danh tương đương trở lên); thông qua danh sách nhân sự đáp ứng tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định để lấy ý kiến giới thiệu ở bước tiếp theo và định hướng nhân sự bổ nhiệm phù hợp với yêu cầu của cơ quan, tổ chức.
Thành phần triệu tập: Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty và ban thường vụ cấp ủy cùng cấp (đối với tổ chức đảng cấp trên cơ sở) hoặc cấp ủy cùng cấp (đối với tổ chức đảng cấp cơ sở).
Người đứng đầu cơ quan tham mưu về tổ chức cán bộ (nếu có) tham dự hội nghị nhưng không thuộc thành phần bỏ phiếu, trừ trường hợp được xác định là thành viên của tập thể lãnh đạo doanh nghiệp theo quy định tại khoản 3 Điều 3 Nghị định này.
Kết quả thảo luận và đề xuất được ghi thành biên bản.
- b) Bước 2: Hội nghị tập thể lãnh đạo mở rộng
Căn cứ vào cơ cấu, tiêu chuẩn, điều kiện và danh sách nhân sự đã được thông qua ở bước 1, người đứng đầu trao đổi định hướng nhân sự bổ nhiệm phù hợp với yêu cầu của cơ quan, tổ chức để hội nghị thảo luận và tiến hành giới thiệu nhân sự bằng phiếu kín.
Thành phần triệu tập: Thực hiện như quy định tại khoản 2 Điều 22 của Nghị định này.
Nguyên tắc giới thiệu và lựa chọn: Mỗi thành viên giới thiệu 01 người cho một chức danh; người nào đạt số phiếu cao nhất trên 50% tính trên tổng số người được triệu tập giới thiệu thì được lựa chọn. Trường hợp không có người nào đạt trên 50% thì chọn tất cả người có số phiếu giới thiệu đạt từ 30% trở lên để giới thiệu ở bước tiếp theo. Trường hợp không có người đạt 30% số phiếu giới thiệu thì không tiếp tục thực hiện các bước tiếp theo và báo cáo cơ quan có thẩm quyền bổ nhiệm xem xét, chỉ đạo.
Phiếu giới thiệu nhân sự bổ nhiệm do Ban tổ chức hội nghị phát hành, có đóng dấu treo của đơn vị. Kết quả kiểm phiếu được ghi thành biên bản, không công bố tại hội nghị này.
- c) Bước 3: Hội nghị tập thể lãnh đạo (lần 2)
Trên cơ sở kết quả giới thiệu nhân sự ở bước 2, tập thể lãnh đạo tiến hành thảo luận và giới thiệu nhân sự bằng phiếu kín.
Thành phần: Thực hiện như quy định ở bước 1.
Nguyên tắc giới thiệu và lựa chọn: Mỗi thành viên lãnh đạo giới thiệu 01 người cho một chức danh trong số nhân sự được giới thiệu ở bước 2 hoặc giới thiệu người khác có đủ tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định; người nào đạt số phiếu cao nhất trên 50% tính trên tổng số người được triệu tập giới thiệu thì được lựa chọn. Trường hợp không có người nào đạt trên 50% thì chọn tất cả người có số phiếu giới thiệu đạt từ 30% trở lên để giới thiệu ở bước tiếp theo. Trường hợp không có người đạt 30% số phiếu giới thiệu thì không tiếp tục thực hiện các bước tiếp theo và báo cáo cơ quan có thẩm quyền bổ nhiệm xem xét, chỉ đạo.
Trường hợp nhân sự giới thiệu ở bước này khác với nhân sự được giới thiệu ở bước 2, tập thể lãnh đạo thảo luận, phân tích kỹ lưỡng, đánh giá nhiều mặt để xem xét, quyết định việc lựa chọn nhân sự giới thiệu ở bước tiếp theo bằng phiếu kín theo thẩm quyền và chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Người được lựa chọn phải được tối thiểu 2/3 tập thể lãnh đạo giới thiệu. Trường hợp không có người đạt 2/3 tập thể lãnh đạo giới thiệu thì không tiếp tục thực hiện các bước tiếp theo và báo cáo cơ quan có thẩm quyền bổ nhiệm xem xét, chỉ đạo.
Phiếu giới thiệu nhân sự bổ nhiệm do Ban tổ chức hội nghị phát hành, có đóng dấu treo của đơn vị. Kết quả kiểm phiếu được ghi thành biên bản, được công bố tại hội nghị này.
- d) Bước 4: Hội nghị cán bộ chủ chốt
Tổ chức lấy ý kiến về danh sách nhân sự được giới thiệu ở bước 3 bằng phiếu kín.
Thành phần: Thực hiện như quy định tại Điều 21 Nghị định này.
Trình tự hội nghị: Thông báo danh sách nhân sự được giới thiệu ở bước 3; tóm tắt lý lịch, quá trình học tập, công tác; bản kê khai tài sản, thu nhập; đánh giá, nhận xét ưu, khuyết điểm, triển vọng phát triển và dự kiến phân công công tác; ghi phiếu lấy ý kiến tín nhiệm (có thể ký tên hoặc không ký tên).
Phiếu lấy ý kiến tín nhiệm do Ban tổ chức hội nghị phát hành, có đóng dấu treo của đơn vị. Kết quả kiểm phiếu được ghi thành biên bản, không công bố tại hội nghị này.
đ) Bước 5: Hội nghị tập thể lãnh đạo (lần 3)
Trước khi tiến hành hội nghị, cơ quan, đơn vị có văn bản đề nghị cấp ủy có thẩm quyền đánh giá, nhận xét bằng văn bản về nhân sự; tiến hành xác minh, kết luận những vấn đề mới nảy sinh (nếu có).
Tập thể lãnh đạo thảo luận và biểu quyết nhân sự.
Thành phần: Thực hiện như quy định ở bước 1.
Trình tự thực hiện: Trên cơ sở ý kiến nhận xét, đánh giá bằng văn bản của cấp ủy có thẩm quyền; kết quả lấy phiếu ở các hội nghị; kết quả xác minh, kết luận những vấn đề mới nảy sinh (nếu có) đối với nhân sự được đề nghị bổ nhiệm; tập thể lãnh đạo thảo luận và biểu quyết nhân sự bằng phiếu kín.
Nguyên tắc lựa chọn: Người đạt số phiếu cao nhất trên 50% tính trên tổng số người được triệu tập thì được lựa chọn đề nghị bổ nhiệm. Trường hợp có 02 người có số phiếu ngang nhau đạt tỷ lệ 50% thì người đứng đầu xem xét, lựa chọn nhân sự để đề nghị bổ nhiệm; đồng thời báo cáo đầy đủ các ý kiến khác nhau để cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.
Phiếu biểu quyết nhân sự bổ nhiệm do Ban tổ chức hội nghị phát hành, có đóng dấu treo của đơn vị. Kết quả kiểm phiếu được ghi thành biên bản.
Chủ tịch Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty ra quyết định bổ nhiệm theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định.”.
- Sửa đổi Điều 31 như sau:
“Điều 31. Trình tự, thủ tục thực hiện bổ nhiệm đối với nguồn nhân sự từ nơi khác
Trường hợp nhân sự do cấp có thẩm quyền dự kiến điều động, bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử từ nguồn nhân sự ngoài cơ quan, đơn vị thì cơ quan tham mưu về tổ chức, cán bộ tiến hành các công việc sau:
Bước 1: Trao đổi ý kiến với tập thể lãnh đạo của cơ quan, tổ chức tiếp nhận nhân sự về dự kiến bổ nhiệm.
Bước 2: Trao đổi, lấy ý kiến của tập thể lãnh đạo nơi nhân sự đang công tác về chủ trương điều động, bổ nhiệm. Người được giới thiệu phải đạt số phiếu trên 50% so với tổng số người được triệu tập; trường hợp người được giới thiệu có số phiếu đạt tỷ lệ 50% thì do người đứng đầu xem xét, quyết định; trường hợp người được giới thiệu có số phiếu đạt tỷ lệ dưới 50% thì vẫn tiến hành các bước tiếp theo và báo cáo cấp có thẩm quyền theo quy định tại Bước 3; lấy đánh giá, nhận xét của địa phương, cơ quan, đơn vị và hồ sơ nhân sự theo quy định.
Gặp nhân sự để trao đổi về yêu cầu nhiệm vụ công tác.
Bước 3: Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan thẩm định về nhân sự và báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.
Trường hợp nhân sự bảo đảm tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định nhưng cơ quan, đơn vị nơi nhân sự công tác hoặc nơi tiếp nhận nhân sự hoặc nhân sự còn có ý kiến chưa thống nhất thì cơ quan tham mưu về tổ chức, cán bộ báo cáo đầy đủ các ý kiến và trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.”.
- Sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 33 như sau:
“3. Trường hợp doanh nghiệp chưa kiện toàn chức danh Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty, Tổng giám đốc, Giám đốc, căn cứ yêu cầu nhiệm vụ, cấp có thẩm quyền bổ nhiệm xem xét, quyết định và chịu trách nhiệm việc giao quyền Chủ tịch công ty, Tổng giám đốc, Giám đốc hoặc giao phụ trách Hội đồng thành viên đối với người đang giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý cho đến khi có quyết định bổ nhiệm các chức danh trên; thời gian giao quyền, giao phụ trách không quá 12 tháng và không tính vào thời gian giữ chức vụ nếu được bổ nhiệm.”.
- Sửa đổi Điều 34 như sau:
“Điều 34. Hồ sơ bổ nhiệm
- Tờ trình về việc đề nghị bổ nhiệm do người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ký.
- Bảng tổng hợp kết quả kiểm phiếu kèm theo biên bản kiểm phiếu ở các bước trong quy trình bổ nhiệm.
- Sơ yếu lý lịch do cá nhân tự khai theo mẫu quy định, được cấp có thẩm quyền xác nhận, có dán ảnh màu khổ 4 x 6 cm và đóng dấu, ảnh chụp trong thời gian không quá 06 tháng.
- Bản tự kiểm điểm 03 năm công tác gần nhất.
- Đánh giá, nhận xét 03 năm gần nhất của cấp có thẩm quyền về phẩm chất đạo đức, lối sống, ý thức tổ chức kỷ luật, đoàn kết nội bộ; về năng lực công tác, kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, trong đó, thể hiện rõ sản phẩm cụ thể, thành tích công tác, hạn chế, khuyết điểm, vi phạm (nếu có); về uy tín và triển vọng phát triển.
- Nhận xét, đánh giá của cấp ủy cùng cấp.
- Kết luận của cấp ủy có thẩm quyền về tiêu chuẩn chính trị theo quy định.
- Nhận xét của chi ủy nơi cư trú đối với bản thân và gia đình. Trường hợp nơi cư trú của bản thân khác với nơi cư trú của gia đình thì phải lấy nhận xét của chi ủy nơi bản thân cư trú và nơi gia đình cư trú.
- Bản kê khai tài sản, thu nhập theo mầu quy định.
- Bản sao các văn bằng, chứng chỉ theo yêu cầu của tiêu chuẩn chức vụ, chức danh bổ nhiệm. Trường hợp nhân sự có bằng tốt nghiệp do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp thì phải được công nhận tại Việt Nam theo quy định.
- Giấy chứng nhận sức khỏe của cơ sở y tế có thẩm quyền cấp trong thời hạn 06 tháng.
- Các kết luận kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và các tài liệu có liên quan (nếu có).”.
- Sửa đổi khoản 1 và bổ sung khoản 5 vào sau khoản 4 Điều 35 như sau:
“1. Khi hết thời hạn giữ chức vụ bổ nhiệm theo quy định, cấp có thẩm quyền phải xem xét, quyết định bổ nhiệm lại hoặc không bổ nhiệm lại đối với người quản lý doanh nghiệp nhà nước, Kiểm soát viên. Trường hợp chưa thực hiện quy trình bổ nhiệm lại theo quy định tại khoản 3 Điều này thì cấp có thẩm quyền bổ nhiệm phải có văn bản thông báo để doanh nghiệp, cá nhân được biết.
Người quản lý doanh nghiệp nhà nước, Kiểm soát viên sau khi được bổ nhiệm vì một trong các lý do: Sức khoẻ không bảo đảm; uy tín giảm sút; không hoàn thành nhiệm vụ; vi phạm kỷ luật đảng, pháp luật của Nhà nước thì cấp có thẩm quyền quyết định việc thay thế, cho thôi giữ chức, miễn nhiệm, cho từ chức, cách chức mà không chờ hết thời hạn giữ chức vụ, hết nhiệm kỳ công tác.
- Người quản lý doanh nghiệp nhà nước, Kiểm soát viên khi hết thời hạn bổ nhiệm mà đang trong thời gian thi hành quyết định kỷ luật nhưng không thuộc diện phải xem xét miễn nhiệm, cho từ chức theo quy định của Đảng và pháp luật thì cơ quan có thẩm quyền bổ nhiệm căn cứ yêu cầu nhiệm vụ, thảo luận, đánh giá, cân nhắc nhiều mặt về phẩm chất, năng lực, uy tín, nguyên nhân, động cơ vi phạm, khuyết điểm và tính chất, mức độ ảnh hưởng, tác động, kết quả khắc phục hậu quả (nếu có) để xem xét, quyết định về việc bổ nhiệm lại hoặc kéo dài thời gian giữ chức vụ, chức danh lãnh đạo, quản lý.”.
- Bổ sung khoản 7, khoản 8 vào sau khoản 6 Điều 36 như sau:
“7. Người quản lý doanh nghiệp khi hết thời hạn bổ nhiệm mà đang trong thời gian thi hành quyết định kỷ luật khiển trách, cảnh cáo thì cơ quan có thẩm quyền bổ nhiệm căn cứ yêu cầu nhiệm vụ, phẩm chất, năng lực, uy tín, nguyên nhân, động cơ vi phạm, khuyết điểm và tính chất, mức độ ảnh hưởng, tác động, kết quả khắc phục hậu quả (nếu có) để xem xét, quyết định về chủ trương bổ nhiệm lại hoặc kéo dài thời gian giữ chức vụ quản lý.
- Người quản lý doanh nghiệp, Kiểm soát viên không được bổ nhiệm lại thì cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định việc bố trí công tác khác; không được bố trí chức vụ tương đương hoặc cao hơn.”.
- Sửa đổi, bổ sung điểm c khoản 2 Điều 37 như sau:
“2. Trình tự, thủ tục bổ nhiệm lại đối với người quản lý doanh nghiệp nhà nước:
- c) Tập thể lãnh đạo doanh nghiệp thảo luận và quyết định nhân sự:
Tập thể lãnh đạo doanh nghiệp thảo luận kết quả lấy phiếu tín nhiệm tại hội nghị cán bộ chủ chốt; phân tích kết quả lấy phiếu ở hội nghị cán bộ chủ chốt. Người được đề nghị bổ nhiệm lại phải đạt tỷ lệ trên 50% tính trên tổng số người được triệu tập tham gia hội nghị cán bộ chủ chốt. Trường hợp đạt tỷ lệ từ 50% trở xuống thì báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định việc tiếp tục thực hiện quy trình;
Xác minh, kết luận những vấn đề mới nảy sinh (nếu có);
Thảo luận, nhận xét, đánh giá và biểu quyết nhân sự bằng phiếu kín. Nhân sự được đề nghị bổ nhiệm lại phải đạt tỷ lệ trên 50% tổng số thành viên tập thể lãnh đạo doanh nghiệp đồng ý; trường hợp nhân sự đạt tỷ lệ 50% thì do Chủ tịch Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty quyết định; trường hợp đạt tỷ lệ dưới 50% thì báo cáo đầy đủ các ý kiến khác nhau để cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.”.
- Sửa đổi, bổ sung điểm b khoản 1 Điều 40 như sau:
“1. Đối tượng điều động, luân chuyển:
- b) Người quản lý doanh nghiệp nhà nước, Kiểm soát viên hết thời hạn bổ nhiệm lần hai mà theo quy định không được bổ nhiệm quá 02 lần liên tục ở một doanh nghiệp.”.
- Bổ sung Điều 40a vào sau Điều 40 như sau:
“Điều 40a. Tiêu chuẩn, điều kiện luân chuyển
- Có lập trường, tư tưởng chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt.
- Có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, lý luận chính trị, năng lực công tác và triển vọng phát triển.
- Đáp ứng tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định của chức vụ đảm nhiệm khi luân chuyển.
- Còn thời gian công tác ít nhất 10 năm công tác tính từ thời điểm luân chuyển; trường hợp đặc biệt do cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.
- Có đủ sức khoẻ để hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao.”.
- Sửa đổi, bổ sung Điều 52 như sau:
“Điều 52. Từ chức
- Việc xem xét cho từ chức đối với người quản lý doanh nghiệp, Kiểm soát viên và người đại diện phần vốn nhà nước được thực hiện trong các trường hợp sau:
- a) Do hạn chế về năng lực hoặc không còn đủ uy tín để hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao.
- b) Để cơ quan, đơn vị mình quản lý, phụ trách xảy ra sai phạm nghiêm trọng.
- c) Có trên 50% số phiếu tín nhiệm thấp tại kỳ lấy phiếu theo quy định của Đảng.
Đối tượng, quy trình, thủ tục lấy phiếu tín nhiệm thực hiện theo quy định của cấp có thẩm quyền.
- d) Vì các lý do chính đáng khác của cá nhân.
- Quy trình xem xét cho từ chức:
- a) Căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều này, người quản lý doanh nghiệp, Kiểm soát viên và người đại diện phần vốn nhà nước có đơn từ chức. Trường hợp không có đơn từ chức thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 53 Nghị định này.
- b) Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn từ chức, cơ quan tham mưu về tổ chức, cán bộ trao đổi với người quản lý doanh nghiệp, Kiểm soát viên và người đại diện phần vốn nhà nước có đơn từ chức và báo cáo cấp có thẩm quyền bổ nhiệm hoặc được phân cấp thẩm quyền bổ nhiệm.
- c) Cấp có thẩm quyền bổ nhiệm hoặc được phân cấp thẩm quyền bổ nhiệm xem xét, quyết định cho từ chức trong thời gian 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đề xuất của cơ quan tham mưu về tổ chức, cán bộ; trường hợp cần thiết vì lý do khách quan thì có thể kéo dài không quá 15 ngày làm việc.
- Khi đơn từ chức chưa được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền đồng ý thì người quản lý doanh nghiệp, Kiểm soát viên và người đại diện phần vốn nhà nước có đơn từ chức vẫn phải tiếp tục thực hiện chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn được giao.
- Người quản lý doanh nghiệp, Kiểm soát viên và người đại diện phần vốn nhà nước sau khi từ chức, nếu có nguyện vọng công tác thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền căn cứ vào năng lực, đạo đức, kinh nghiệm để xem xét bố trí công tác phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị.”.
- Sửa đổi, bổ sung Điều 53 như sau:
“Điều 53. Miễn nhiệm
- Việc xem xét miễn nhiệm đối với người quản lý doanh nghiệp, Kiểm soát viên và người đại diện phần vốn nhà nước được thực hiện trong các trường hợp sau:
- a) Bị kỷ luật cảnh cáo hoặc khiển trách mà cấp có thẩm quyền xác định là năng lực hạn chế, uy tín giảm sút.
- b) Bị kỷ luật khiển trách hai lần trở lên trong cùng một thời hạn bổ nhiệm.
- c) Có trên 2/3 số phiếu tín nhiệm thấp tại kỳ lấy phiếu theo quy định của Đảng.
Đối tượng, quy trình, thủ tục lấy phiếu tín nhiệm thực hiện theo quy định của cấp có thẩm quyền.
- d) Có hai năm liên tiếp được xếp loại chất lượng ở mức không hoàn thành nhiệm vụ.
đ) Bị cơ quan có thẩm quyền kết luận suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; vi phạm những điều đảng viên không được làm; vi phạm trách nhiệm nêu gương, ảnh hưởng xấu đến uy tín của bản thân và cơ quan, đơn vị nơi đang công tác.
- e) Bị cơ quan có thẩm quyền kết luận vi phạm tiêu chuẩn chính trị theo quy định về bảo vệ chính trị nội bộ của Đảng đến mức phải miễn nhiệm.
- g) Người quản lý doanh nghiệp, người đại diện phần vốn nhà nước là người đứng đầu để cơ quan, đơn vị thuộc quyền quản lý, phụ trách hoặc cấp dưới trực tiếp xảy ra tham nhũng, tiêu cực rất nghiêm trọng.
- Quy trình xem xét miễn nhiệm:
- a) Khi có đủ căn cứ miễn nhiệm đối với người quản lý doanh nghiệp, Kiểm soát viên và người đại diện phần vốn nhà nước quy định tại khoản 1 Điều này, chậm nhất trong thời gian 10 ngày làm việc, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty hoặc cơ quan tham mưu về tổ chức cán bộ có trách nhiệm trao đối với người quản lý doanh nghiệp, Kiểm soát viên đề xuất cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định; đối với người đại diện phần vốn nhà nước thì cấp có thẩm quyền bổ nhiệm thực hiện công việc này.
- b) Cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định việc miễn nhiệm trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề xuất; trường hợp cần thiết vì lý do khách quan thì có thể kéo dài không quá 15 ngày làm việc. Tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị có thẩm quyền phải thảo luận, xác định rõ căn cứ miễn nhiệm theo đề xuất của cơ quan tham mưu về tổ chức, cán bộ trước khi biểu quyết bằng phiếu kín. Việc quyết định miễn nhiệm phải được từ 50% trở lên tổng số thành viên tập thể lãnh đạo đồng ý; trường hợp đạt tỷ lệ 50% thì người đứng đầu cơ quan, đơn vị quyết định; trường hợp đạt tỷ lệ dưới 50% thì báo cáo cơ quan quản lý cấp trên xem xét, quyết định.
- Người quản lý doanh nghiệp nhà nước, Kiểm soát viên, người đại diện phần vốn nhà nước bị miễn nhiệm không được hưởng lương theo chức vụ, chức danh kể từ ngày có quyết định miễn nhiệm. Sau khi bị miễn nhiệm, người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xem xét bố trí công tác phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị theo nguyên tắc không bố trí chức vụ tương đương hoặc cao hơn; người bị miễn nhiệm có trách nhiệm chấp hành quyết định phân công của cấp có thẩm quyền. Trường hợp bị miễn nhiệm do xếp loại chất lượng ở mức không hoàn thành nhiệm vụ trong 02 năm liên tiếp thì cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cho thôi việc theo quy định của pháp luật.”.
- Sửa đổi, bổ sung điểm g khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 54 như sau:
“1. Cấp có thẩm quyền xem xét cho thôi làm người đại diện phần vốn nhà nước thuộc một trong các trường hợp sau:
- g) Theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền cử người đại diện khi có lý do cho thôi làm người đại diện phần vốn nhà nước khác theo quy định của Đảng và pháp luật.
- Quy trình xem xét cho thôi làm người đại diện phần vốn nhà nước:
- b) Chậm nhất sau 30 ngày kể từ ngày nhận được văn bản đề xuất việc cho thôi làm người đại diện phần vốn nhà nước của cơ quan tham mưu về tổ chức, cán bộ, cơ quan đại diện chủ sở hữu phải thảo luận, biểu quyết bằng phiếu kín. Việc quyết định cho thôi làm người đại diện phần vốn nhà nước do cơ quan đại diện chủ sở hữu xem xét, quyết định.”.
- Sửa đổi khoản 2, khoản 4, khoản 6; bổ sung khoản 9, khoản 10, khoản 11 vào sau khoản 8 Điều 56 như sau:
“2. Mỗi hành vi vi phạm chỉ bị xử lý một lần bằng một hình thức kỷ luật. Trong cùng một thời điểm xem xét xử lý kỷ luật, nếu người quản lý doanh nghiệp nhà nước, Kiểm soát viên, người đại diện phần vốn nhà nước có từ 02 hành vi vi phạm trở lên thì xem xét, kết luận về từng hành vi vi phạm và quyết định chung bằng một hình thức cao nhất.
- Khi xem xét xử lý kỷ luật phải căn cứ vào nội dung, động cơ, tính chất, mức độ, tác hại, nguyên nhân vi phạm, hoàn cảnh cụ thể; các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ; thái độ tiếp thu và sửa chữa, việc khắc phục khuyết điểm, vi phạm, hậu quả đã gây ra; các trường hợp khác theo quy định của Đảng và của pháp luật được tính là căn cứ đổ xem xét miễn trách nhiệm kỷ luật hoặc giảm nhẹ trách nhiệm.
- Người quản lý doanh nghiệp nhà nước, Kiểm soát viên, người đại diện phần vốn nhà nước bị xử lý kỷ luật đảng thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày công bố quyết định kỷ luật đảng, cơ quan, tổ chức, đơn vị phải thực hiện quy trình xử lý kỷ luật hành chính (nếu có), trừ trường hợp chưa xem xét xử lý kỷ luật quy định tại Điều 59 Nghị định này.
Hình thức kỷ luật hành chính phải bảo đảm tương xứng với kỷ luật về đảng. Trường hợp bị xử lý kỷ luật về đảng bằng hình thức cao nhất thì cơ quan tham mưu về tổ chức, cán bộ báo cáo cấp có thẩm quyền xử lý kỷ luật xem xét, quyết định xử lý kỷ luật hành chính bằng hình thức cao nhất nếu thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 63 Nghị định này; nếu không thuộc một trong các trường hợp nêu trên thì báo cáo cấp có thẩm quyền quyết định xử lý kỷ luật bằng hình thức cách chức đối với người quản lý doanh nghiệp nhà nước, Kiểm soát viên hoặc kỷ luật bãi nhiệm đối với người đại diện phần vốn nhà nước.
Trường hợp còn có ý kiến khác nhau về việc xác định hình thức xử lý kỷ luật hành chính tương xứng với hình thức xử lý kỷ luật về đảng cao nhất thì cấp có thẩm quyền quyết định việc thành lập Hội đồng xử lý kỷ luật để tham mưu; tham khảo ý kiến bằng văn bản của tổ chức Đảng ra quyết định xử lý kỷ luật đảng viên trước khi quyết định.
Trường hợp có thay đổi về hình thức xử lý kỷ luật về đảng thì phải thay đổi hình thức xử lý kỷ luật hành chính tương xứng. Thời gian đã thi hành quyết định xử lý kỷ luật cũ được trừ vào thời gian thi hành quyết định xử lý kỷ luật mới (nếu còn). Trường hợp cấp có thẩm quyền của Đảng quyết định xóa bỏ quyết định xử lý kỷ luật về đảng thì cấp có thẩm quyền xử lý kỷ luật hành chính phải ban hành quyết định hủy bỏ quyết định xử lý kỷ luật hành chính.
- Quyết định kỷ luật người quản lý doanh nghiệp nhà nước, Kiểm soát viên, người đại diện phần vốn nhà nước có hiệu lực 12 tháng kể từ ngày có hiệu lực thi hành; đối với trường hợp bị kỷ luật bằng hình thức khiển trách, cảnh cáo, cách chức thì việc quy hoạch, bổ nhiệm, ứng cử vào chức vụ cao hơn, bố trí công tác cán bộ áp dụng hiệu lực theo quy định của cơ quan có thẩm quyền.
Trường hợp đã có quyết định kỷ luật về đảng thì hiệu lực của quyết định xử lý kỷ luật hành chính tính từ ngày quyết định kỷ luật về đảng có hiệu lực. Trong thời gian này, nếu không tiếp tục có hành vi vi phạm pháp luật đến mức phải xử lý kỷ luật thì quyết định kỷ luật đương nhiên chấm dứt hiệu lực mà không cần phải có văn bản về việc chấm dứt hiệu lực.
Trường hợp người quản lý doanh nghiệp nhà nước, Kiểm soát viên, người đại diện phần vốn nhà nước tiếp tục có hành vi vi phạm đến mức bị xử lý kỷ luật trong thời gian đang thi hành quyết định xử lý kỷ luật thì xử lý theo quy định tại khoản 3 Điều này. Quyết định kỷ luật đang thi hành chấm dứt hiệu lực kể từ thời điểm quyết định kỷ luật đối với hành vi vi phạm pháp luật mới có hiệu lực.
Các tài liệu liên quan đến việc xử lý kỷ luật và quyết định kỷ luật phải được lưu giữ trong hồ sơ nhân sự. Hình thức kỷ luật phải ghi vào lý lịch của người quản lý doanh nghiệp nhà nước, Kiểm soát viên, người đại diện phần vốn nhà nước.
- Người quản lý doanh nghiệp nhà nước, Kiểm soát viên, người đại diện phần vốn nhà nước có hành vi vi phạm trong thời gian công tác tại cơ quan, tổ chức, đơn vị cũ mà khi chuyển sang cơ quan, tổ chức, đơn vị mới mới phát hiện hành vi vi phạm đó và vẫn còn trong thời hiệu xử lý kỷ luật thì cấp có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức, đơn vị mới thực hiện việc xem xét xử lý kỷ luật và áp dụng hình thức kỷ luật theo quy định pháp luật tương ứng với vị trí người quản lý doanh nghiệp nhà nước, Kiểm soát viên, người đại diện phần vốn nhà nước hiện đang đảm nhiệm. Đối với trường hợp này, cơ quan, tổ chức, đơn vị cũ có trách nhiệm cung cấp toàn bộ hồ sơ liên quan đến hành vi vi phạm và cử người phối hợp trong quá trình xem xét, xử lý kỷ luật. Các quy định về đánh giá, xếp loại chất lượng và các quy định khác có liên quan được tính ở đơn vị cũ nơi người có hành vi vi phạm khi công tác.
- Không được cử vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ; cha, mẹ (vợ hoặc chồng), cha nuôi, mẹ nuôi; con đẻ, con nuôi; anh, chị, em ruột; cô, dì, chú, bác, cậu ruột; anh, chị, em ruột của vợ hoặc chồng; vợ hoặc chồng của anh, chị, em ruột hoặc người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến hành vi vi phạm bị xem xét xử lý kỷ luật là thành viên Hội đồng kỷ luật hoặc là người chủ trì cuộc họp kiểm điểm.”.
- Sửa đổi Điều 57 như sau:
“Điều 57. Thời hiệu, thời hạn xử lý kỷ luật
- Thời hiệu xử lý kỷ luật là thời hạn mà khi hết thời hạn đó thì người quản lý doanh nghiệp nhà nước, Kiểm soát viên, người đại diện phần vốn nhà nước, người đã nghỉ việc, nghỉ hưu có hành vi vi phạm không bị xử lý kỷ luật. Thời hiệu xử lý kỷ luật được tính từ thời điểm có hành vi vi phạm. Trường hợp có hành vi vi phạm mới trong thời hạn để tính thời hiệu xử lý kỷ luật theo quy định thì thời hiệu xử lý kỷ luật đối với hành vi vi phạm cũ được tính lại kể từ thời điểm xảy ra hành vi vi phạm mới.
- Xác định thời điểm có hành vi vi phạm:
- a) Đối với hành vi vi phạm xác định được thời điểm chấm dứt thì thời điểm có hành vi vi phạm được tính từ thời điểm chấm dứt.
- b) Đối với hành vi vi phạm chưa chấm dứt thì thời điểm có hành vi vi phạm được tính từ thời điểm phát hiện.
- c) Đối với hành vi vi phạm không xác định được thời điểm chấm dứt thì thời điểm có hành vi vi phạm được tính từ thời điểm có kết luận của cấp có thẩm quyền.
- Trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này, thời hiệu xử lý kỷ luật được quy định như sau:
- a) 05 năm đối với hành vi vi phạm ít nghiêm trọng đến mức phải kỷ luật bằng hình thức khiển trách;
- b) 10 năm đối với hành vi vi phạm không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này.
- Đối với các hành vi vi phạm sau đây thì không áp dụng thời hiệu xử lý kỷ luật:
- a) Người quản lý doanh nghiệp nhà nước, Kiểm soát viên, người đại diện phần vốn nhà nước là đảng viên có hành vi vi phạm đến mức phải kỷ luật bằng hình thức khai trừ;
- b) Có hành vi vi phạm quy định về công tác bảo vệ chính trị nội bộ;
- c) Có hành vi xâm hại đến lợi ích quốc gia trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại;
- d) Sử dụng văn bằng, chứng chỉ, giấy chứng nhận, xác nhận giả hoặc không hợp pháp.
- Thời hạn xử lý kỷ luật đối với người quản lý doanh nghiệp nhà nước, Kiểm soát viên, người đại diện phần vốn nhà nước là khoảng thời gian từ khi phát hiện hành vi vi phạm của người quản lý doanh nghiệp nhà nước, Kiểm soát viên, người đại diện phần vốn nhà nước hoặc từ khi cấp có thẩm quyền kết luận người quản lý doanh nghiệp nhà nước, Kiểm soát viên, người đại diện phần vốn nhà nước có hành vi vi phạm đến khi có quyết định xử lý kỷ luật của cấp có thẩm quyền.
Thời hạn xử lý kỷ luật không quá 90 ngày; trường hợp vụ việc có tình tiết phức tạp cần có thời gian thanh tra, kiểm tra để xác minh làm rõ thêm thì thời hạn xử lý kỷ luật có thể kéo dài nhưng không quá 150 ngày.
Cấp có thẩm quyền xử lý kỷ luật phải bảo đảm xử lý kỷ luật trong thời hạn theo quy định. Trường hợp hết thời hạn xử lý kỷ luật mà chưa ban hành quyết định xử lý kỷ luật thì chịu trách nhiệm về việc chậm ban hành và phải ban hành quyết định xử lý kỷ luật nếu hành vi vi phạm còn trong thời hiệu.
- Không tính vào thời hiệu, thời hạn xử lý kỷ luật đối với:
- a) Thời gian chưa xem xét xử lý kỷ luật đối với các trường hợp quy định tại Điều 59 Nghị định này;
- b) Thời gian điều tra, truy tố, xét xử theo thủ tục tố tụng hình sự (nếu có);
- c) Thời gian thực hiện khiếu nại hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án về quyết định xử lý kỷ luật cho đến khi ra quyết định xử lý kỷ luật thay thế theo quyết định của cấp có thẩm quyền.
- Trường hợp người quản lý doanh nghiệp nhà nước, Kiểm soát viên, người đại diện phần vốn nhà nước đã bị khởi tố, truy tố hoặc đã có quyết định đưa ra xét xử theo thủ tục tố tụng hình sự nhưng sau đó có quyết định đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án mà hành vi vi phạm pháp luật có dấu hiệu vi phạm kỷ luật thì bị xem xét xử lý kỷ luật.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án, người ra quyết định phải gửi quyết định và tài liệu có liên quan cho cấp có thẩm quyền xử lý kỷ luật.”.
- Sửa đổi, bổ sung điểm c khoản 1 Điều 59 như sau:
“c) Là nữ giới đang trong thời gian mang thai, nghỉ thai sản, đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi; là nam giới (trong trường hợp vợ chết hoặc vì lý do khách quan, bất khả kháng khác) đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp người có hành vi vi phạm có văn bản đề nghị xem xét xử lý kỷ luật.”.
- Sửa đổi, bổ sung khoản 9 Điều 60 như sau:
“9. Vi phạm quy định của pháp luật về: phòng, chống bạo lực gia đình; dân số, hôn nhân và gia đình; bình đẳng giới; an sinh xã hội; quy định khác của Đảng và của pháp luật liên quan đến người quản lý doanh nghiệp nhà nước, Kiểm soát viên, người đại diện phần vốn nhà nước.”.
- Sửa đổi Điều 64 như sau:
“Điều 64. Trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật
- Việc xử lý kỷ luật đối với người quản lý doanh nghiệp nhà nước, Kiểm soát viên, người đại diện phần vốn nhà nước được thực hiện theo các bước sau đây:
- a) Tổ chức họp kiểm điểm;
- b) Thành lập Hội đồng kỷ luật;
- c) Cấp có thẩm quyền ra quyết định xử lý kỷ luật.
- Không thực hiện quy định tại điểm a khoản 1 Điều này đối với trường hợp:
- a) Xử lý kỷ luật theo quy định tại khoản 10 Điều 56 Nghị định này;
- b) Xử lý kỷ luật theo quyết định của cấp có thẩm quyền quy định tại điểm d khoản 1 Điều 59 Nghị định này.
- Không thực hiện quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này đối với trường hợp:
- a) Đã có kết luận của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền về hành vi vi phạm, trong đó có đề xuất cụ thể hình thức kỷ luật theo quy định;
- b) Người quản lý doanh nghiệp nhà nước, Kiểm soát viên, người quản lý vốn nhà nước có hành vi vi phạm pháp luật bị Tòa án kết án phạt tù mà không được hưởng án treo hoặc bị Tòa án kết án về hành vi tham nhũng;
- c) Đã có quyết định xử lý kỷ luật về đảng, trừ trường hợp cấp có thẩm quyền quyết định thành lập Hội đồng kỷ luật theo quy định tại khoản 6 Điều 56 Nghị định này.
Các trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này được sử dụng kết luận về hành vi vi phạm (nếu có) mà không phải điều tra, xác minh lại.”.
- Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 1 Điều 65 như sau:
“a) Trường hợp người bị kiểm điểm là Chủ tịch Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty hoặc là Kiểm soát viên, người đại diện phần vốn nhà nước thì người đứng đầu cơ quan đại diện chủ sở hữu có trách nhiệm chủ trì tổ chức họp kiểm điểm và quyết định thành phần họp kiểm điểm bao gồm đại diện lãnh đạo, cơ quan tham mưu về tổ chức, cán bộ của cơ quan đại diện chủ sở hữu, đại diện Hội đồng thành viên, Nhóm người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp, đại diện cấp ủy, công đoàn doanh nghiệp hoặc đơn vị nơi người bị kiểm điểm công tác;”.
- Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 74 như sau:
“1. Thời điểm nghỉ hưu của người quản lý doanh nghiệp nhà nước, Kiểm soát viên, người đại diện phần vốn nhà nước là kết thúc ngày cuối cùng của tháng đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định. Thời điểm hưởng chế độ hưu trí là ngày đầu tiên của tháng liền kề sau thời điểm nghỉ hưu.
Trường hợp hồ sơ không xác định được ngày, tháng sinh mà chỉ có năm sinh thì lấy ngày 01 tháng 01 của năm sinh để làm căn cứ xác định thời điểm nghỉ hưu và thời điểm hưởng chế độ hưu trí.
Trường hợp Kiểm soát viên thôi việc thì được hưởng chế độ trợ cấp thôi việc áp dụng như đối với công chức. Thời gian tính để hưởng chế độ thôi việc là thời gian làm công chức; kinh phí thực hiện chế độ thôi việc do doanh nghiệp chi trả”.
- Sửa đổi cụm từ “Ban Thường vụ cấp ủy” thành “cấp ủy cùng cấp” tại điểm a khoản 1, điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 21.
- Sửa đổi cụm từ “15 ngày” thành “30 ngày” tại điểm b khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 29, điểm d khoản 1 và điểm c khoản 2 Điều 32.
Điều 2. Áp dụng Nghị định đối với các đối tượng khác
Cơ quan có thẩm quyền thành lập, quản lý quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, tổ chức khác theo quy định của pháp luật mà không phải cơ quan, tổ chức, đơn vị hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập quyết định việc áp dụng quy định về đánh giá, quy hoạch, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, điều động, luân chuyển, từ chức, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật, nghỉ hưu đối với người quản lý quỹ, người quản lý tổ chức theo quy định tại Nghị định số 159/2020/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2020 của Chính phủ về quản lý người giữ chức danh, chức vụ và người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp và Nghị định này.
Điều 3. Điều khoản thi hành
- Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành.
- Các trường hợp áp dụng thời hiệu xử lý kỷ luật theo quy định tại Nghị định số 159/2020/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2020 về quản lý người giữ chức danh, chức vụ và người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp:
- a) Trường hợp phát hiện hành vi vi phạm và đã thực hiện quy trình xử lý kỷ luật trước ngày 15 tháng 11 năm 2022;
- b) Đã có kết luận của cấp có thẩm quyền về hành vi vi phạm; đã có quyết định xử lý kỷ luật về đảng có hiệu lực trước ngày 15 tháng 11 năm 2022 nhưng chưa xử lý kỷ luật hành chính.
- Đối với các hành vi vi phạm đã thực hiện quy trình xử lý kỷ luật trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành thì tiếp tục áp dụng quy định của pháp luật tại thời điểm thực hiện quy trình để xử lý; đối với các hành vi vi phạm xảy ra trước ngày Nghị định này có hiệu lực, còn trong thời hiệu nhưng chưa xử lý thì áp dụng quy định của Nghị định này.
- Không xem xét lại: Quyết định xử lý kỷ luật đã có hiệu lực pháp luật trước ngày Nghị định này có hiệu lực, trừ trường hợp giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật; quyết định khác về việc xử lý kỷ luật đã có hiệu lực trước ngày Nghị định này có hiệu lực.
- Trường hợp đã giao quyền, giao phụ trách trước ngày Nghị định này có hiệu lực và đã quá 12 tháng tính từ ngày quyết định giao quyền, giao phụ trách có hiệu lực thì trong vòng 03 tháng kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực, cấp có thẩm quyền phải thực hiện bố trí nhân sự theo quy định của Đảng và pháp luật; không tiếp tục thực hiện giao quyền, giao phụ trách đối với vị trí này.
Trường hợp đã giao quyền, giao phụ trách trước ngày Nghị định này có hiệu lực nhưng chưa đủ 12 tháng tính từ ngày quyết định giao quyền, giao phụ trách có hiệu lực và còn trên 03 tháng tính đến hết thời hạn 12 tháng thì thực hiện nốt đối với thời gian còn; trường hợp còn từ 03 tháng trở xuống thì thực hiện như quy định tại khoản 3 Điều này; không tiếp tục thực hiện giao quyền, giao phụ trách đối với vị trí này.
Trường hợp đã giao quyền, giao phụ trách trước ngày Nghị định này có hiệu lực và người đang được giao quyền, giao phụ trách đã nhận thông báo nghỉ hưu trước ngày Nghị định này có hiệu lực thì tiếp tục thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định cho đến khi nghỉ hưu theo quy định.
Trường hợp đặc biệt do chưa có nhân sự đủ tiêu chuẩn, điều kiện thay thế cần kéo dài hơn so với thời gian quy định tại khoản này thì cấp có thẩm quyền bổ nhiệm xem xét, quyết định về thời gian kéo dài phù hợp, bảo đảm đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Đảng và pháp luật.
- Trường hợp đã được quy hoạch hoặc đang thực hiện quy trình quy hoạch, bổ nhiệm, luân chuyển, xử lý kỷ luật trước ngày Nghị định này có hiệu lực thì tiếp tục áp dụng quy định tại thời điểm thực hiện.
Điều 4. Trách nhiệm thi hành
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
Nơi nhận: – Ban Bí thư Trung ương Đảng; – Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ; – Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; – HĐND, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; – Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng; – Văn phòng Tổng Bí thư; – Văn phòng Chủ tịch nước; – Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội; – Văn phòng Quốc hội; – Tòa án nhân dân tối cao; – Viện kiểm sát nhân dân tối cao; – Kiểm toán nhà nước; – Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia; – Ngân hàng Chính sách xã hội; – Ngân hàng Phát triển Việt Nam; – Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; – Cơ quan trung ương của các đoàn thể; – VPCP: BTCN, các PCN, Trợ lý TTg, TGĐ Cổng TTĐT, các Vụ, Cục, đơn vị trực thuộc, Công báo; – Lưu: VT, TCCV (2). |
| Số/Ký hiệu | 13/2023/TT-BKHĐT |
| Cơ quan ban hành | Bộ Kế hoạch và Đầu tư |
| Loại văn bản | Thông tư |
| Người ký | Trần Duy Đông |
| Ngày ban hành | 12/12/2023 |
| Ngày hiệu lực | 27/01/2024 |
| Ngày hết hiệu lực | |
| Hiệu lực văn bản | Còn hiệu lực |
| BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ ——- |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ————— |
| Số: 13/2023/TT-BKHĐT | Hà Nội, ngày 12 tháng 12 năm 2023 |
THÔNG TƯ
HƯỚNG DẪN CƠ CHẾ TỔ CHỨC THỰC HIỆN “CHƯƠNG TRÌNH HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP KHU VỰC TƯ NHÂN KINH DOANH BỀN VỮNG GIAI ĐOẠN 2022-2025” BAN HÀNH KÈM THEO QUYẾT ĐỊNH SỐ 167/QĐ-TTG NGÀY 08 THÁNG 02 NĂM 2022 CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa ngày 12 tháng 6 năm 2017;
Căn cứ Luật Bảo vệ môi trường ngày 17 tháng 11 năm 2020;
Căn cứ Nghị định số 80/2021/NĐ-CP ngày 26 tháng 8 năm 2021 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa;
Căn cứ Nghị định số 89/2022/NĐ-CP ngày 28 tháng 10 năm 2022 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Kế hoạch và Đầu tư;
Thực hiện Quyết định số 167/QĐ-TTg ngày 08 tháng 02 năm 2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp khu vực tư nhân kinh doanh bền vững giai đoạn 2022-2025”;
Theo đề nghị của Cục trưởng Cục Phát triển doanh nghiệp;
Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành Thông tư hướng dẫn cơ chế tổ chức thực hiện “Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp khu vực tư nhân kinh doanh bền vững giai đoạn 2022-2025”.
Chương I
QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
- Phạm vi điều chỉnh
Thông tư này hướng dẫn cơ chế tổ chức thực hiện “Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp khu vực tư nhân kinh doanh bền vững giai đoạn 2022-2025” quy định tại Quyết định số 167/QĐ-TTg ngày 08 tháng 02 năm 2022 của Thủ tướng Chính phủ (sau đây gọi tắt là “Chương trình 167”), bao gồm: nguyên tắc đo lường, đánh giá và công nhận doanh nghiệp kinh doanh bền vững; tiêu chuẩn, điều kiện sử dụng kết quả của tổ chức đo lường đánh giá và công nhận doanh nghiệp kinh doanh bền vững thông qua bộ công cụ đánh giá mô hình kinh doanh bền vững; nội dung, cơ chế tổ chức thực hiện hoạt động phát triển hệ sinh thái hỗ trợ kinh doanh bền vững; hỗ trợ doanh nghiệp kinh doanh bền vững; xây dựng, tổng hợp kế hoạch, tổ chức thực hiện và quản lý Chương trình 167.
- Đối tượng áp dụng:
- a) Doanh nghiệp khu vực tư nhân thực hiện kinh doanh bền vững;
- b) Tổ chức thúc đẩy phát triển kinh doanh bền vững;
- c) Bộ, cơ quan trung ương; Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi tắt là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) và các đơn vị thuộc, trực thuộc; các tổ chức hiệp hội được giao nhiệm vụ thực hiện hoạt động của Chương trình 167;
- d) Tổ chức, cá nhân liên quan đến kinh doanh bền vững.
Điều 2. Giải thích từ ngữ
- Kinh doanh bền vững là các mô hình kinh doanh quy định tại Chương trình 167, bao gồm:
- a) Mô hình kinh doanh áp dụng kinh tế tuần hoàn là mô hình kinh doanh trong đó các công đoạn xây dựng chiến lược, tầm nhìn doanh nghiệp, hoạt động thiết kế, sản xuất, tiêu dùng và dịch vụ nhằm giảm khai thác nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, kéo dài vòng đời sản phẩm, hạn chế chất thải phát sinh và giảm thiểu tác động xấu đến môi trường theo quy định tại Điều 142 Luật Bảo vệ môi trường; và thực hiện một hoặc nhiều biện pháp để đạt được tiêu chí, kinh tế tuần hoàn theo quy định tại Điều 138 Nghị định số 08/2022/NĐ-CP ngày 10/01/2022 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường;
- b) Mô hình kinh doanh bao trùm là mô hình kinh doanh huy động người thu nhập thấp tham gia trong chuỗi giá trị của doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh; trong đó, người thu nhập thấp có thể tham gia với vai trò là nhà cung ứng, khách hàng, nhà phân phối hay có thể là người lao động tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra các giá trị chia sẻ;
- c) Mô hình kinh doanh phát triển bền vững theo khung môi trường, xã hội và quản trị (sau đây gọi tắt là Mô hình kinh doanh áp dụng ESG) là mô hình kinh doanh hướng tới sự phát triển bền vững, đảm bảo hài hoà các yếu tố bền vững về các mặt kinh tế, bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu, giải quyết các vấn đề an sinh xã hội và quản trị.
- Doanh nghiệp khu vực tư nhân thực hiện kinh doanh bền vững (sau đây gọi tắt là doanh nghiệp kinh doanh bền vững) là doanh nghiệp được đăng ký thành lập theo quy định của Luật Doanh nghiệp, nhưng không bao gồm doanh nghiệp nhà nước theo quy định tại khoản 11 Điều 14 Luật Doanh nghiệp và tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thuộc một trong các trường hợp quy định tại điểm a, b Điều 23 Luật Đầu tư; và áp dụng một trong các mô hình kinh doanh bền vững quy định tại khoản 1 Điều này.
- Doanh nghiệp nhỏ và vừa khu vực tư nhân kinh doanh bền vững (sau đây gọi tắt là doanh nghiệp nhỏ và vừa kinh doanh bền vững) là doanh nghiệp kinh doanh bền vững theo quy định tại khoản 2 Điều này và đáp ứng tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa quy định tại Điều 5 Nghị định số 80/2021/NĐ-CP ngày 26 tháng 8 năm 2021 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (sau đây gọi tắt là Nghị định số 80/2021/NĐ-CP) và khoản 3 Điều 3 Thông tư số 06/2022/TT-BKHĐT ngày 10 tháng 5 năm 2022 của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn một số điều của Nghị định số 80/2021/NĐ-CP (sau đây gọi tắt là Thông tư số 06/2022/TT-BKHĐT).
- Bộ công cụ đánh giá mô hình kinh doanh bền vững là tập hợp các tiêu chí được cụ thể hóa và lượng hóa theo thang điểm, trọng số để đánh giá mức độ áp dụng mô hình kinh doanh bền vững trong doanh nghiệp quy định tại khoản 1 Điều này (sau đây gọi tắt là bộ công cụ).
- Đo lường, đánh giá, công nhận (sau đây gọi tắt là đánh giá) doanh nghiệp kinh doanh bền vững là việc sử dụng bộ công cụ để đánh giá hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp theo từng mức độ áp dụng mô hình kinh doanh bền vững.
- Tổ chức thúc đẩy phát triển kinh doanh bền vững theo quy định tại điểm b khoản 2 Mục I của Chương trình 167, bao gồm:
- a) Cơ quan, đơn vị, đơn vị sự nghiệp công lập thuộc, trực thuộc bộ, cơ quan trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; đơn vị sự nghiệp công lập thuộc, trực thuộc các cơ quan, đơn vị này;
- b) Tổ chức hiệp hội được giao nhiệm vụ thực hiện hoạt động của Chương trình 167 (sau đây gọi tắt là tổ chức hiệp hội) gồm các tổ chức chính trị – xã hội, hội có tính chất đặc thù quy định tại Quyết định số 68/2010/QĐ-TTg ngày 01 tháng 11 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc quy định hội có tính chất đặc thù, được ngân sách nhà nước bảo đảm hoặc hỗ trợ để triển khai nhiệm vụ theo quy định hiện hành và có chức năng hỗ trợ, thúc đẩy phát triển doanh nghiệp;
- c) Viện nghiên cứu, trường đại học, đơn vị sự nghiệp không thuộc điểm a, b khoản 6 Điều này; doanh nghiệp; tổ chức khác có tư cách pháp nhân không thuộc đối tượng quy định tại các điểm a, b khoản này.
Điều 3. Nguyên tắc thực hiện
- Nguyên tắc đánh giá và sử dụng kết quả đánh giá mức độ áp dụng mô hình kinh doanh bền vững trong doanh nghiệp:
- a) Việc đánh giá mức độ áp dụng mô hình kinh doanh bền vững trong doanh nghiệp dựa trên nguyên tắc tự nguyện;
- b) Tổ chức thúc đẩy phát triển kinh doanh bền vững sử dụng bộ công cụ đã được đăng tải trên Cổng thông tin doanh nghiệp tại địa chỉ http://business.gov.vn hoặc tự nghiên cứu xây dựng bộ công cụ đáp ứng các quy định tại Điều 4 Thông tư này để thực hiện đánh giá và hỗ trợ doanh nghiệp kinh doanh bền vững. Các doanh nghiệp được đánh giá đạt từ 50% tổng số điểm trở lên của bộ công cụ được hỗ trợ các nội dung theo quy định tại Điều 13, 14 Thông tư này.
- Căn cứ vào khả năng cân đối nguồn lực và định hướng ưu tiên hỗ trợ trong năm, tổ chức thúc đẩy phát triển kinh doanh bền vững thực hiện hỗ trợ doanh nghiệp kinh doanh bền vững theo nguyên tắc sau:
- a) Doanh nghiệp kinh doanh bền vững đăng ký nhu cầu trước được hỗ trợ trước;
- b) Doanh nghiệp kinh doanh bền vững do phụ nữ làm chủ, doanh nghiệp kinh doanh bền vững sử dụng nhiều lao động nữ và doanh nghiệp kinh doanh bền vững là doanh nghiệp xã hội theo quy định của pháp luật được hỗ trợ trước.
- Việc triển khai các hoạt động hỗ trợ từ nguồn ngân sách nhà nước thực hiện theo quy định tại Thông tư này và Thông tư của Bộ Tài chính hướng dẫn cơ chế quản lý và sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước thực hiện Chương trình 167 (sau đây gọi tắt là Thông tư của Bộ Tài chính hướng dẫn Chương trình 167).
- Việc triển khai các hoạt động hỗ trợ từ nguồn kinh phí đóng góp, tài trợ thực hiện theo thỏa thuận với nhà tài trợ, bên tham gia đóng góp kinh phí (trường hợp có thỏa thuận), hoặc theo quy định của tổ chức thúc đẩy phát triển kinh doanh bền vững (trường hợp không có thoả thuận). Cơ chế thực hiện (quy trình, thủ tục, nội dung và chi phí thực hiện, trách nhiệm của các bên liên quan) và việc quản lý, sử dụng nguồn kinh phí đóng góp, tài trợ phải đảm bảo tuân thủ quy định của pháp luật Việt Nam.
Chương II
BỘ CÔNG CỤ ĐÁNH GIÁ MÔ HÌNH KINH DOANH BỀN VỮNG
Điều 4: Bộ công cụ đánh giá mô hình kinh doanh bền vững
- Bộ công cụ đánh giá mô hình kinh doanh bền vững bao gồm các nhóm tiêu chí cụ thể hóa theo từng mô hình kinh doanh bền vững quy định tại các Điều 5, 6, 7 Thông tư này. Bộ công cụ bao gồm các tiêu chí được lượng hóa theo thang điểm, có trọng số, có phương pháp đánh giá cụ thể phù hợp với thực tế, không vi phạm quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên.
- Bộ công cụ do các Bộ, cơ quan trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và các tổ chức thúc đẩy phát triển kinh doanh bền vững quy định tại điểm b, c khoản 6 Điều 2 của Thông tư này xem xét ban hành tùy theo yêu cầu thực tiễn và phù hợp với chức năng nhiệm vụ. Bộ công cụ trước khi được ban hành cần được lấy ý kiến các cơ quan liên quan và rà soát để đảm bảo tính phù hợp theo quy định pháp luật hiện hành và được công khai trên trang thông tin điện tử của đơn vị ban hành trước khi đưa vào triển khai áp dụng đánh giá doanh nghiệp trong thực tế.
Điều 5. Bộ công cụ đánh giá mô hình kinh doanh áp dụng kinh tế tuần hoàn
Bộ công cụ đánh giá mô hình kinh doanh áp dụng kinh tế tuần hoàn bao gồm các nhóm tiêu chí như sau:
- Về định hướng kinh doanh theo mô hình kinh tế tuần hoàn: Doanh nghiệp có triết lý về kinh doanh áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn trong tầm nhìn, sứ mệnh, hoặc có mục tiêu, chiến lược, kế hoạch hoạt động hướng đến kinh tế tuần hoàn.
- Về áp dụng kinh tế tuần hoàn trong công đoạn sản xuất và tiền sản xuất:
- a) Tiêu chí về giảm khai thác, sử dụng tài nguyên không tái tạo, tài nguyên nước; tăng hiệu quả sử dụng tài nguyên, nguyên liệu thô, vật liệu; tiết kiệm năng lượng;
- b) Tiêu chí về kéo dài thời gian sử dụng vật liệu, thiết bị, sản phẩm, hàng hóa, các linh kiện, cấu kiện;
- c) Tiêu chí về hạn chế chất thải phát sinh và giảm thiểu tác động xấu đến môi trường bao gồm: giảm chất thải rắn, nước thải, khí thải; giảm sử dụng hóa chất độc hại; tái chế chất thải, thu hồi năng lượng; giảm sản phẩm sử dụng một lần; mua sắm xanh.
- Về áp dụng kinh tế tuần hoàn trong công đoạn sau bán hàng, bao gồm vận chuyển giao hàng, sử dụng sản phẩm, thu hồi sản phẩm:
- a) Tiêu chí về sử dụng năng lượng tái tạo; tái chế, tái sử dụng vật liệu tiêu hao; dịch vụ sửa chữa hoặc bảo trì sản phẩm; thông tin bao bì, nhãn mác sản phẩm;
- b) Tiêu chí về tái chế sản phẩm, quản lý thu hồi, thu gom sản phẩm;
- c) Tiêu chí về sử dụng hạt vi nhựa hoặc nhựa không tự phân hủy.
Điều 6. Bộ công cụ đánh giá mô hình kinh doanh bao trùm
Bộ công cụ đánh giá mô hình kinh doanh bao trùm bao gồm các nhóm tiêu chí như sau:
- Về định hướng kinh doanh bao trùm: Doanh nghiệp có triết lý về định hướng kinh doanh bao trùm trong tầm nhìn, sứ mệnh, thông điệp của lãnh đạo doanh nghiệp hoặc có mục tiêu, chiến lược hoạt động, kế hoạch hoạt động có hướng đến kinh doanh bao trùm; hệ thống quản lý và đo lường tác động.
- Về tính khả thi thương mại: Tính khả thi thương mại cấp độ doanh nghiệp; tính khả thi thương mại cấp độ mô hình kinh doanh bao trùm; quản trị tốt; tuân thủ pháp luật lao động, bảo vệ môi trường, tiêu chí phát triển bền vững về khía cạnh xã hội.
- Về tác động xã hội: Tác động xã hội theo chiều rộng; tác động xã hội theo chiều sâu; tính nhân rộng và lan tỏa theo ngành, theo chuỗi, đến cộng đồng địa phương, thúc đẩy bình đẳng giới.
- Về đổi mới sáng tạo: Đổi mới sáng tạo trong quy trình, mô hình kinh doanh để cải thiện thu nhập và nâng cao chất lượng cuộc sống của người thu nhập thấp; đổi mới sáng tạo về công nghệ nâng cao hiệu quả kinh tế, tác động xã hội, bảo vệ môi trường; đổi mới sáng tạo vì xã hội, thúc đẩy công bằng và bền vững trong xã hội; đổi mới sáng tạo bảo vệ tài nguyên môi trường, phát triển doanh nghiệp theo hướng xanh, phục vụ tăng trưởng xanh.
Điều 7. Bộ công cụ đánh giá mô hình kinh doanh áp dụng ESG
Bộ công cụ đánh giá mô hình kinh doanh áp dụng ESG bao gồm các nhóm tiêu chí như sau:
- Về môi trường: Tuân thủ về môi trường, tiêu chuẩn môi trường đối với nhà cung cấp, vật liệu, năng lượng, nước, đa dạng sinh học, khí thải, nước thải và chất thải, sản phẩm có trách nhiệm;
- Về xã hội: Việc làm, quan hệ lao động và quản lý, an toàn và sức khỏe nghề nghiệp, giáo dục và đào tạo, sự đa dạng, cơ hội bình đẳng, tham gia công đoàn và các tổ chức đoàn thể, lao động trẻ em, lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc, quyền lợi người lao động, cộng đồng địa phương, tiêu chuẩn xã hội với nhà cung cấp, sức khỏe và an toàn của khách hàng, tiếp thị và nhãn hiệu, bảo mật thông tin khách hàng.
- Về quản trị: Cam kết thực hiện ESG hoặc kinh doanh bền vững, cơ cấu và chức năng của Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên hoặc Ban Giám đốc, quản trị sự tham gia của các bên liên quan, tính công khai và minh bạch, môi trường kiểm soát và quyền cổ đông (chỉ áp dụng với các công ty cổ phần, có niêm yết trên sàn chứng khoán).
Chương III
HƯỚNG DẪN HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP KINH DOANH BỀN VỮNG
Mục 1. PHÁT TRIỂN HỆ SINH THÁI HỖ TRỢ KINH DOANH BỀN VỮNG
Điều 8. Nâng cao nhận thức và kết nối thúc đẩy kinh doanh bền vững
Các hoạt động phát triển hệ sinh thái nhằm nâng cao nhận thức và kết nối thúc đẩy kinh doanh bền vững bao gồm:
- Xây dựng tài liệu về kinh doanh bền vững và mô hình kinh doanh bền vững, bao gồm: Bộ công cụ, các ấn phẩm báo chí, xuất bản (các chương trình, chuyên mục, tiểu phẩm, ký sự, bài viết); các tài liệu, ấn phẩm dưới dạng các tác phẩm văn học nghệ thuật (tranh, pa-nô, áp phích, băng rôn, khẩu hiệu, bảng điện tử); tài liệu, ấn phẩm dưới dạng chương trình truyền hình và các tài liệu khác.
- Tổ chức phổ biến,Thông tin, truyền thông:
- a) In ấn, phát hành, thực hiện truyền thông trên các phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội các tài liệu quy định tại khoản 1 Điều này;
- b) Tổ chức các hội nghị, hội thảo, tọa đàm theo các hình thức trực tiếp, hoặc trực tuyến, hoặc kết hợp trực tiếp và trực tuyến nhằm: chia sẻ thông tin, phổ biến kinh nghiệm và thực tiễn tốt về kinh doanh bền vững và mô hình kinh doanh bền vững; tập huấn, hướng dẫn, phổ biến các tài liệu tại khoản 1 Điều này; kết nối doanh nghiệp kinh doanh bền vững với các tổ chức tín dụng, nhà đầu tư, kết nối các tổ chức, chuyên gia, doanh nghiệp thành công điển hình trong nước và quốc tế. Tại các hội nghị, hội thảo có kết hợp trưng bày, triển lãm, giới thiệu về kinh doanh bền vững.
Điều 9. Tổ chức đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức làm công tác hỗ trợ, quản lý về kinh doanh bền vững
- Đối tượng: cán bộ, công chức, viên chức làm công tác hỗ trợ, quản lý về kinh doanh bền vững thuộc các cơ quan, đơn vị quy định tại điểm a, điểm b khoản 6 Điều 2 Thông tư này.
- Nội dung đào tạo bồi dưỡng: các kiến thức, mô hình kinh doanh bền vững; kinh nghiệm trong nước, nước ngoài về kinh doanh bền vững và mô hình kinh doanh bền vững; quy định pháp lý và cách thức triển khai thực hiện hỗ trợ doanh nghiệp kinh doanh bền vững; các nội dung khác liên quan trực tiếp đến công tác hỗ trợ, quản lý về kinh doanh bền vững.
- Hoạt động đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức làm công tác hỗ trợ, quản lý về kinh doanh bền vững từ nguồn ngân sách nhà nước thực hiện theo quy định tại Thông tư số 36/2018/TT-BTC ngày 30 tháng 3 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí dành cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức; Thông tư số 06/2023/TT-BTC ngày 31 tháng 1 năm 2023 của Bộ trưởng Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 36/2018/TT-BTC ngày 30 tháng 3 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí dành cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức.
Điều 10. Xây dựng mạng lưới chuyên gia tư vấn hỗ trợ doanh nghiệp kinh doanh bền vững
- Căn cứ chức năng, nhiệm vụ, các bộ, cơ quan ngang bộ bổ sung quy định về lĩnh vực tư vấn và bộ tiêu chí công nhận cá nhân, tổ chức tư vấn hỗ trợ doanh nghiệp kinh doanh bền vững vào ngành, lĩnh vực quản lý.
- Quy trình, điều kiện, thủ tục công nhận tư vấn hỗ trợ doanh nghiệp kinh doanh bền vững thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 13 Nghị định số 80/2021/NĐ-CP và quy định của bộ, cơ quan ngang bộ về tiêu chí công nhận cá nhân, tổ chức tư vấn thuộc mạng lưới tư vấn viên trong ngành, lĩnh vực phụ trách.
- Hoạt động hình thành, vận hành, quản lý, duy trì hoạt động của tư vấn viên hỗ trợ doanh nghiệp kinh doanh bền vững thực hiện theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 13 Nghị định số 80/2021/NĐ-CP của Chính phủ.
Điều 11. Thúc đẩy nguồn tài chính cho kinh doanh bền vững
- Nghiên cứu, phát triển các sản phẩm, dịch vụ tài chính, tín dụng cho kinh doanh bền vững; huy động các nguồn tài chính trong nước và nước ngoài hỗ trợ kinh doanh bền vững; phát triển nền tảng thông tin kết nối khách hàng doanh nghiệp kinh doanh bền vững với các tổ chức tín dụng, nhà đầu tư.
- Tổ chức hội nghị, hội thảo tư vấn về các sản phẩm, dịch vụ tài chính, tín dụng cho kinh doanh bền vững.
Mục 2. HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP KINH DOANH BỀN VỮNG
Điều 12. Hướng dẫn thực hiện hỗ trợ doanh nghiệp kinh doanh bền vững
- Tổ chức thúc đẩy phát triển kinh doanh bền vững sử dụng bộ công cụ đánh giá mức độ doanh nghiệp áp dụng mô hình kinh doanh bền vững và thực hiện hỗ trợ theo nguyên tắc thực hiện quy định tại Điều 3 Thông tư này
- Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa kinh doanh bền vững: thực hiện hỗ trợ các nội dung quy định tại khoản 1, 2, 3 và 4, Điều 13 và khoản 1, 2 Điều 14 Thông tư này. Quy trình, thủ tục hỗ trợ thực hiện theo quy định tại Điều 32 Nghị định số 80/2021/NĐ-CP, Điều 3 Thông tư số 06/2022/TT-BKHĐT.
- Đối với doanh nghiệp kinh doanh bền vững khác: thực hiện hỗ trợ các nội dung theo quy định tại khoản 5 Điều 13 và khoản 3 Điều 14 Thông tư này.
Điều 13. Hỗ trợ doanh nghiệp kinh doanh bền vững về tư vấn, công nghệ và xúc tiến thương mại
- Ngân sách nhà nước hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa kinh doanh bền vững về tư vấn, công nghệ, xúc tiến thương mại theo quy định tại Điều 11, Điều 22, Điều 25 Nghị định số 80/2021/NĐ-CP, Thông tư số 06/2022/TT-BKHĐT.
- Hỗ trợ về tư vấn
- a) Tư vấn tìm kiếm, lựa chọn, giải mã và chuyển giao công nghệ; tư vấn về sở hữu trí tuệ, khai thác và phát triển tài sản trí tuệ; tư vấn giải pháp chuyển đổi số; tư vấn để doanh nghiệp xây dựng, áp dụng tiêu chuẩn cơ sở; xây dựng, áp dụng hệ thống quản lý chất lượng quy định; tư vấn hoàn thiện sản phẩm mới, dịch vụ mới, mô hình kinh doanh mới, công nghệ mới; tư vấn đăng ký thành công tài khoản bán sản phẩm, dịch vụ trên các sàn thương mại điện tử quốc tế; tư vấn tìm kiếm thông tin, truyền thông, quảng bá cho các sản phẩm, dịch vụ kinh doanh bền vững của doanh nghiệp: Doanh nghiệp nhỏ và vừa kinh doanh bền vững lựa chọn nội dung hỗ trợ phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp và được hỗ trợ theo nội dung và định mức tương ứng quy định tại Điều 11, Điều 22, Điều 25 Nghị định số 80/2021/NĐ-CP.
- b) Tư vấn tiếp cận tài chính, gọi vốn đầu tư; tư vấn về nhân sự, sản xuất, bán hàng, thị trường, quản trị nội bộ, tư vấn xây dựng chiến lược, chuyển đổi mô hình sản xuất, kinh doanh theo hướng kinh doanh bền vững và các nội dung khác liên quan tới hoạt động sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp: thực hiện hỗ trợ theo định mức quy định đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa do phụ nữ làm chủ, doanh nghiệp nhỏ và vừa sử dụng nhiều lao động nữ và doanh nghiệp nhỏ và vừa là doanh nghiệp xã hội tại khoản 2 Điều 13 Nghị định số 80/2021/NĐ-CP;
- Hỗ trợ công nghệ
Doanh nghiệp nhỏ và vừa kinh doanh bền vững lựa chọn nội dung hỗ trợ về công nghệ phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp và được hỗ trợ theo nội dung và định mức tương ứng quy định tại Điều 22, Điều 25 Nghị định số 80/2021/NĐ-CP:
- a) Hỗ trợ kiểm định, hiệu chuẩn, đo lường chất lượng sản phẩm, dịch vụ; hỗ trợ thử nghiệm sản phẩm kinh doanh bền vững (bao gồm thử nghiệm sản phẩm mới), hoàn thiện sản phẩm (bao gồm hoàn thiện sản phẩm mới), mô hình kinh doanh bền vững; Hỗ trợ chi phí, kiểm định, giám định, chứng nhận chất lượng sản phẩm, hàng hóa; chi phí chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng;
- b) Hỗ trợ chi phí thử nghiệm mẫu phương tiện đo; chi phí kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm phương tiện đo, chuẩn đo lường; chi phí cấp dấu định lượng của hàng đóng gói sẵn phù hợp với yêu cầu kỹ thuật đo lường;
- c) Hỗ trợ chi phí cấp chứng nhận sản phẩm phù hợp quy chuẩn kỹ thuật;
- d) Hỗ trợ chi phí đặt hàng các cơ sở, viện, trường để nghiên cứu thử nghiệm phát triển các sản phẩm, dịch vụ;
đ) Hỗ trợ chi phí thuê, mua các giải pháp chuyển đổi số.
- Hỗ trợ về xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường
Doanh nghiệp nhỏ và vừa kinh doanh bền vững lựa chọn nội dung hỗ trợ phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp và được hỗ trợ theo nội dung và định mức tương ứng quy định tại Điều 22, Điều 25 Nghị định số 80/2021/NĐ-CP:
- a) Hỗ trợ chi phí duy trì tài khoản trên các sàn thương mại điện tử;
- b) Hỗ trợ chi phí thuê địa điểm, thiết kế và dàn dựng gian hàng, vận chuyển sản phẩm trưng bày, chi phí đi lại, chi phí ăn, ở cho đại diện của doanh nghiệp tham gia hội chợ triển lãm xúc tiến thương mại trong nước và nước ngoài.
- Doanh nghiệp kinh doanh bền vững khác được hỗ trợ về tư vấn, công nghệ, xúc tiến thương mại theo các nội dung quy định tại điểm a khoản 2 Mục II Chương trình 167. Việc thực hiện hỗ trợ theo nguyên tắc quy định tại khoản 1, 2, 4 Điều 3 Thông tư này.
Điều 14. Hỗ trợ đào tạo, huấn luyện chuyên sâu cho doanh nghiệp kinh doanh bền vững
- Hỗ trợ tham gia các khóa đào tạo về khởi sự kinh doanh, quản trị doanh nghiệp và đào tạo trực tiếp tại doanh nghiệp
Doanh nghiệp nhỏ và vừa kinh doanh bền vững được hỗ trợ tham gia các khóa đào tạo quy định tại khoản 1, 2, 3 Điều 14 Nghị định số 80/2021/NĐ-CP.
- a) Khóa đào tạo trực tiếp về khởi sự kinh doanh, quản trị doanh nghiệp: áp dụng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 14 Nghị định số 80/2021/NĐ-CP.
- b) Khóa đào tạo trực tiếp tại doanh nghiệp: áp dụng quy định tại điểm b khoản 3 Điều 14 Nghị định số 80/2021/NĐ-CP.
- Hỗ trợ đào tạo huấn luyện chuyên sâu về áp dụng và phát triển mô hình kinh doanh bền vững
- a) Đào tạo huấn luyện chuyên sâu trong nước: áp dụng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 25 Nghị định số 80/2021/NĐ-CP;
- b) Đào tạo huấn luyện chuyên sâu nước ngoài: áp dụng quy định tại điểm b khoản 5 Điều 22 Nghị định số 80/2021/NĐ-CP.
- Doanh nghiệp kinh doanh bền vững khác được hỗ trợ đào tạo, huấn luyện chuyên sâu trong nước và nước ngoài từ nguồn kinh phí ngoài ngân sách nhà nước theo hình thức và nội dung do tổ chức thúc đẩy kinh doanh bền vững quyết định. Việc thực hiện hỗ trợ theo nguyên tắc quy định tại khoản 1, 2, 4 Điều 3 Thông tư này.
Mục 3. HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ CHƯƠNG TRÌNH
Điều 15. Hoạt động quản lý Chương trình
Hoạt động quản lý chương trình do Bộ Kế hoạch và Đầu tư thực hiện bao gồm:
- Xây dựng tài liệu hướng dẫn, quy trình tổ chức thực hiện và khung đánh giá, giám sát Chương trình 167 (sau đây gọi chung là tài liệu) gồm: xây dựng tài liệu; thuê chuyên gia tư vấn xây dựng, thẩm định nội dung tài liệu; tổ chức hội nghị, hội thảo phổ biến, công bố, hướng dẫn sử dụng tài liệu.
- Đánh giá, tổng hợp, báo cáo tình hình thực hiện Chương trình 167:
- a) Tổ chức thường xuyên hoặc đột xuất các đoàn công tác đánh giá tình hình triển khai ở các bộ, cơ quan trung ương, địa phương; tổ chức hội nghị, hội thảo, cuộc họp đánh giá kết quả thực hiện Chương trình;
- b) Định kỳ hằng năm thực hiện tổng hợp, xây dựng báo cáo Thủ tướng Chính phủ về tình hình thực hiện Chương trình trên phạm vi cả nước và đề xuất sửa đổi, bổ sung nội dung, hoạt động của Chương trình trong trường hợp cần thiết.
Chương IV
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Điều 16. Trách nhiệm của Bộ Kế hoạch và Đầu tư
- Hướng dẫn các bộ, cơ quan trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, các tổ chức hiệp hội, tổng hợp kế hoạch và dự toán kinh phí ngân sách trung ương triển khai Chương trình 167 (theo mẫu tại Phụ lục 1 và Biểu 1 ban hành kèm Thông tư này); thông báo kế hoạch thực hiện Chương trình 167 cho các bộ, cơ quan trung ương, tổ chức hiệp hội ở trung ương trên cơ sở dự toán được cấp thẩm quyền phê duyệt hàng năm.
- Triển khai các hoạt động quản lý Chương trình 167 quy định tại Điều 15 Thông tư này, các hoạt động của Chương trình 167 trong phạm vi, lĩnh vực quản lý; tổng hợp và đăng tải các bộ công cụ trên Cổng thông tin hỗ trợ doanh nghiệp tại địa chỉ http://business.gov.vn.
Điều 17. Trách nhiệm của các bộ, cơ quan trung ương, ủy ban nhân dân cấp tỉnh và tổ chức hiệp hội
Các bộ, cơ quan trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và tổ chức hiệp hội thực hiện đầy đủ các trách nhiệm quy định tại khoản 3 mục IV Chương trình 167 và các quy định sau:
- Các bộ, cơ quan trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và tổ chức hiệp hội ở trung ương xây dựng kế hoạch và dự toán kinh phí thực hiện Chương trình 167 theo hướng dẫn của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Thông tư cửa Bộ Tài chính hướng dẫn Chương trình 167. Kế hoạch và dự toán ngân sách nhà nước hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa kinh doanh bền vững của các bộ, cơ quan trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh lồng ghép vào kế hoạch và dự toán kinh phí ngân sách nhà nước hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định tại Nghị định số 80/2021/NĐ-CP của Chính phủ, Thông tư số 06/2022/TT-BKHĐT của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Thông tư số 52/2023/TT-BTC ngày 08/8/2023 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn Nghị định số 80/2021/NĐ-CP.
- Các bộ, cơ quan trung ương và tổ chức hiệp hội quy định tại điểm b, khoản 6 Điều 2 Thông tư này ở cấp trung ương gửi kế hoạch và dự toán kinh phí thực hiện Chương trình 167 tới Bộ Kế hoạch và Đầu tư để tổng hợp.
Căn cứ dự toán kinh phí ngân sách trung ương được cấp thẩm quyền giao, các bộ, cơ quan trung ương và tổ chức hiệp hội ở trung ương điều chỉnh kế hoạch và dự toán thực hiện Chương trình 167 (bao gồm chi tiết nhiệm vụ giao cho các tổ chức thúc đẩy phát triển kinh doanh bền vững thuộc, trực thuộc), gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư xem xét có văn bản thông báo theo quy định tại khoản 2 Điều 16 Thông tư này cho các cơ quan làm căn cứ triển khai thực hiện.
- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao Sở Kế hoạch và Đầu tư làm đầu mối chủ trì, phối hợp với các sở, ban, ngành, các cơ quan, tổ chức có liên quan và Ủy ban nhân dân các huyện, thành, thị xây dựng kế hoạch và dự toán ngân sách địa phương thực hiện Chương trình 167; gửi Sở Tài chính tổng hợp chung vào dự toán ngân sách của địa phương trình cấp có thẩm quyền xem xét, bố trí theo quy định.
- Tổ chức triển khai các hoạt động của Chương trình 167 theo quy định tại Thông tư này (không bao gồm Điều 15); xây dựng báo cáo kết quả thực hiện và gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư trước ngày 10 tháng 12 hằng năm để tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
Điều 18. Trách nhiệm của tổ chức thúc đẩy kinh doanh bền vững và doanh nghiệp kinh doanh bền vững
- Tổ chức thúc đẩy kinh doanh bền vững thực hiện đầy đủ các trách nhiệm quy định tại khoản 4 mục IV Chương trình 167 và các quy định sau:
- a) Các tổ chức thúc đẩy phát triển kinh doanh bền vững tại điểm a, b khoản 5 Điều 2 Thông tư này triển khai các hoạt động của Chương trình 167 theo quy định tại Thông tư này và trên cơ sở kế hoạch, dự toán được duyệt.
- b) Các tổ chức thúc đẩy phát triển kinh doanh bền vững tại điểm c khoản 5 Điều 2 Thông tư này chủ động huy động nguồn đóng góp, tài trợ để triển khai các hoạt động của Chương trình 167 do tổ chức mình chủ trì thực hiện, đảm bảo tuân thủ đúng nguyên tắc quy định tại Điều 3 Thông tư này; tham gia triển khai các hoạt động của Chương trình 167 do các tổ chức tại khoản 1 Điều này chủ trì thực hiện trên cơ sở được lựa chọn theo quy định của pháp luật đấu thầu.
- Các doanh nghiệp kinh doanh bền vững thực hiện các trách nhiệm quy định tại khoản 5 mục IV Chương trình 167.
Điều 19. Hiệu lực thi hành
- Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 27 tháng 01 năm 2024.
- Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc, đề nghị các bộ, cơ quan trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, các tổ chức hiệp hội phản ánh kịp thời về Bộ Kế hoạch và Đầu tư để nghiên cứu, phối hợp giải quyết theo thẩm quyền.
- Trường hợp các văn bản dẫn chiếu tại Thông tư này hết hiệu lực và được thay thế bằng văn bản khác thì thực hiện theo quy định tại văn bản thay thế./.
Nơi nhận: – Các bộ, cơ quan trung ương; – HĐND, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; – Cơ quan trung ương của các đoàn thể; – Cục Kiểm tra văn bản QPPL – Bộ Tư pháp; – Sở Kế hoạch và Đầu tư, Kho bạc Nhà nước các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; – Website: Chính phủ, Bộ KHĐT, Công báo; – Lưu: VT, PTDN (Lg05b). |
KT. BỘ TRƯỞNG THỨ TRƯỞNGTrần Duy Đông |
PHỤ LỤC 1:
ĐỀ XUẤT KẾ HOẠCH VÀ DỰ TOÁN KINH PHÍ HỖ TRỢ THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH 167
(Ban hành kèm Thông tư số 13/2023/TT-BKHĐT ngày 12 tháng 12 năm 2023 của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
| TÊN ĐƠN VỊ CHỦ QUẢN TÊN ĐƠN VỊ ĐỀ XUẤT KẾ HOẠCH ——- |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ————— |
| Số: …../….. | ………., ngày ……. tháng …… năm …. |
ĐỀ XUẤT KẾ HOẠCH VÀ DỰ TOÁN KINH PHÍ HỖ TRỢ THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH 167 NĂM…
- TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH 167 NĂM 20… (năm trước năm kế hoạch)
- Kết quả thực hiện Chương trình 167 năm 20…
- a) Thông tin về Bộ công cụ đánh giá mô hình kinh doanh bền vững được áp dụng:
Cơ quan tổ chức ban hành Bộ công cụ; mục tiêu; đối tượng, lĩnh vực áp dụng Bộ công cụ (đính kèm bản sao Bộ công cụ hoặc địa chỉ đăng tải bản điện tử của Bộ công cụ);
- b) Các hoạt động phát triển hệ sinh thái hỗ trợ kinh doanh bền vững:
– Nội dung hỗ trợ;
– Số kinh phí đã giải ngân từ nguồn nguồn ngân sách nhà nước (ngân sách trung ương, ngân sách địa phương), từ nguồn đóng góp của doanh nghiệp, từ nguồn đóng góp, tài trợ.
- c) Các hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp kinh doanh bền vững
– Số lượng doanh nghiệp được đánh giá thông qua Bộ công cụ;
– Số lượng doanh nghiệp được hỗ trợ, các nội dung hỗ trợ doanh nghiệp kinh doanh bền vững;
– Số kinh phí đã giải ngân từ nguồn ngân sách nhà nước (ngân sách trung ương, ngân sách địa phương), từ nguồn đóng góp của doanh nghiệp, từ nguồn đóng góp, tài trợ.
- d) Thuận lợi, khó khăn khi triển khai Chương trình 167.
đ) Kiến nghị
- Số liệu tổng hợp kết quả thực hiện Chương trình 167 năm 20….
Tổng kinh phí đã thực hiện: ……….…. đồng. Trong đó:
– Từ nguồn ngân sách trung ương: …………. đồng;
– Từ nguồn ngân sách địa phương: …………. đồng;
– Từ nguồn đóng góp của doanh nghiệp kinh doanh bền vững: …………. đồng;
– Từ nguồn đóng góp, tài trợ: …………. đồng.
- ĐỀ XUẤT KẾ HOẠCH VÀ DỰ TOÁN KINH PHÍ THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH 167 NĂM 20… (năm kế hoạch)
- Dự kiến kế hoạch thực hiện Chương trình 167 năm 20…
Đơn vị xây dựng thuyết minh về những nội dung đề xuất hỗ trợ:
– Thông tin chung (sự cần thiết triển khai các hoạt động phát triển hệ sinh thái và hỗ trợ doanh nghiệp kinh doanh bền vững; nhu cầu hỗ trợ của doanh nghiệp kinh doanh bền vững trong lĩnh vực, địa bàn phụ trách);
– Thông tin về tổ chức hỗ trợ phát triển kinh doanh bền vững (năng lực của tổ chức; cách thức thực hiện hỗ trợ; cách thức phối hợp thực hiện);
– Thông tin về Bộ công cụ đánh giá mô hình kinh doanh bền vững dự kiến áp dụng: Cơ quan tổ chức ban hành Bộ công cụ; mục tiêu; đối tượng, lĩnh vực áp dụng Bộ công cụ (đính kèm bản sao Bộ công cụ hoặc địa chỉ đăng tải bản điện tử của Bộ công cụ);
– Doanh nghiệp dự kiến đánh giá thông qua Bộ công cụ (đối tượng, phạm vi, số lượng, quy mô);
– Số lượng doanh nghiệp kinh doanh bền vững dự kiến thực hiện hỗ trợ: ………………..;
– Nội dung hỗ trợ: ………………………..
– Các thông tin liên quan khác.
- Số liệu tổng hợp về đề xuất kinh phí thực hiện thực hiện Chương trình 167 năm 20…
Tổng kinh phí đề nghị để thực hiện Chương trình 167: ……….. đồng. Trong đó:
– Từ nguồn ngân sách trung ương: ……….. đồng;
– Từ nguồn ngân sách địa phương: ……….. đồng;
– Từ nguồn đóng góp của doanh nghiệp kinh doanh bền vững: ……….. đồng;
– Từ nguồn đóng góp, tài trợ: ……….. đồng.
| ….., ngày … tháng … năm…. Thủ trưởng đơn vị (Ký, họ tên, đóng dấu cơ quan) |
TÊN: đơn vị chủ quản
Tên: ….Cơ quan, tổ chức hỗ trợ DNNVV
Biểu 1: Kế hoạch và dự toán kinh phí ngân sách nhà nước thực hiện Chương trình 167 năm 20…
(Ban hành kèm Thông tư số 13/2023/TT-BKHĐT ngày 12 tháng 12 năm 2023 của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
ĐVT: đồng
| TT | Hoạt động/ Nội dung | ĐV tính | Số lượng | Đơn giá | Thành tiền | Định mức hỗ trợ tối đa từ NSNN/mỗi hoạt động, nội dung | Phân chia nguồn | Ghi chú | |||
| Tỷ lệ % | Số kinh phí | NSNN hỗ trợ | Đóng góp của DNNVV | Nguồn đóng góp, tài trợ | |||||||
| a | b | c | d | e | g= d x e | h | i | k=g x h | l | m | n |
| A | Phát triển hệ sinh thái hỗ trợ kinh doanh bền vững (=I+II+III+IV) | ||||||||||
| I | Nâng cao nhận thức về kinh doanh bền vững*(=1+2) | ||||||||||
| 1 | Xây dựng tài liệu về kinh doanh bền vững và mô hình kinh doanh bền vững | ||||||||||
| 2 | Tổ chức phổ biến thông tin, truyền thông | ||||||||||
| 2.1 | In ấn, phát hành, thực hiện truyền thông trên các phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội các tài liệu | ||||||||||
| 2.2 | Tổ chức các hội nghị, hội thảo, tọa đàm theo các hình thức trực tiếp, hoặc trực tuyến, hoặc kết hợp trực tiếp và trực tuyến nhằm: chia sẻ thông tin, phổ biến kinh nghiệm và thực tiễn tốt về kinh doanh bền vững và mô hình kinh doanh bền vững; tập huấn, hướng dẫn, phổ biến các tài liệu | ||||||||||
| II | Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức làm công tác hỗ trợ, quản lý về kinh doanh bền vững | ||||||||||
| 1 | Tổ chức khóa đào tạo bồi dưỡng | ||||||||||
| III | Xây dựng mạng lưới chuyên gia tư vấn hỗ trợ doanh nghiệp kinh doanh bền vững | ||||||||||
| 1 | Xây dựng mạng lưới quy định tại 3 Điều 10 Thông tư này | ||||||||||
| B | Hỗ trợ DN kinh doanh bền vững (=I+II) | – Các Bộ, tổ chức hiệp hội quy định tại điểm b, khoản 6 Điều 2 Thông tư ở cấp trung ương lập dự toán NSTW để hỗ trợ DNVVV kinh doanh bền vững thuộc ngành, lĩnh vực phụ trách. Các địa phương lập dự toán NSĐP để hỗ trợ DNNVV kinh doanh bền vững tại địa phương. Dự toán NSNN hỗ trợ DNNVV kinh doanh bền vững lồng ghép trong dự toán NSNN hỗ trợ DNNVV và tổng hợp theo quy định tại Điều 19 Thông tư 06/2022/TT-BKHĐT.
– DN kinh doanh bền vững khác được hỗ trợ từ nguồn tài trợ, đóng góp khác. |
|||||||||
| I | Hỗ trợ tư vấn, công nghệ và xúc tiến thương mại (=I.1+I.2+I.3) | ||||||||||
| I.1 | Hỗ trợ tư vấn *(=1+2+3+4+5+6+7+8+ 9+10) | ||||||||||
| 1 | Tư vấn tìm kiếm, lựa chọn, giải mã và chuyển giao công nghệ | DN | |||||||||
| 2 | Tư vấn về sở hữu trí tuệ, khai thác và phát triển tài sản trí tuệ | DN | |||||||||
| 3 | Tư vấn lựa chọn giải pháp chuyển đổi số | DN | |||||||||
| 4 | Tư vấn để doanh nghiệp xây dựng, áp dụng tiêu chuẩn cơ sở | DN | |||||||||
| 5 | Tư vấn để doanh nghiệp xây dựng, áp dụng hệ thống quản lý chất lượng | DN | |||||||||
| 6 | Tư vấn hoàn thiện sản phẩm mới, dịch vụ mới, mô hình kinh doanh mới, công nghệ mới | ||||||||||
| 7 | Tư vấn đăng ký thành công tài khoản bán sản phẩm, dịch vụ trên các sàn thương mại điện tử quốc tế | DN | |||||||||
| 8 | Tư vấn tìm kiếm thông tin, truyền thông, quảng bá cho các sản phẩm, dịch vụ kinh doanh bền vững của doanh nghiệp | DN | |||||||||
| 9 | Tư vấn tiếp cận tài chính, gọi vốn đầu tư; tư vấn về nhân sự, sản xuất, bán hàng, thị trường, quản trị nội bộ, tư vấn xây dựng chiến lược, chuyển đổi mô hình sản xuất, kinh doanh theo hướng kinh doanh bền vững và các nội dung khác liên quan tới hoạt động sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp | DN | |||||||||
| 10 | Hoạt động/ Nội dung hỗ trợ doanh nghiệp KDBV khác… | ||||||||||
| I.2 | Hỗ trợ công nghệ *(=1+2+3+4+5+6+7+8) | ||||||||||
| 1 | Hỗ trợ kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm, đo lường chất lượng sản phẩm, dịch vụ | DN | |||||||||
| 2 | Hỗ trợ thử nghiệm, hoàn thiện sản phẩm (bao gồm hoàn thiện sản phẩm mới), mô hình kinh doanh bền vững | DN | |||||||||
| 3 | Hỗ trợ chi phí, kiểm định, giám định, chứng nhận chất lượng sản phẩm, hàng hóa; chi phí chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng | DN | |||||||||
| 4 | Hỗ trợ chi phí thử nghiệm mẫu phương tiện đo; chi phí kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm phương tiện đo, chuẩn đo lường; chi phí cấp dấu định lượng của hàng đóng gói sẵn phù hợp với yêu cầu kỹ thuật đo lường | DN | |||||||||
| 5 | Chi phí cấp chứng nhận sản phẩm phù hợp quy chuẩn kỹ thuật | DN | |||||||||
| 6 | Hỗ trợ chi phí đặt hàng các cơ sở, viện, trường để nghiên cứu thử nghiệm phát triển các sản phẩm, dịch vụ quy định | DN | |||||||||
| 7 | Hỗ trợ chi phí thuê, mua các giải pháp chuyển đổi số | ||||||||||
| 7.1 | Đối với DN nhỏ | DN | |||||||||
| 7.2 | Đối với DN vừa | DN | |||||||||
| 8 | Hoạt động/ Nội dung hỗ trợ doanh nghiệp KDBV khác… | ||||||||||
| I.3 | Hỗ trợ xúc tiến thương mại *(=1+2) | ||||||||||
| 1 | Hỗ trợ chi phí duy trì tài khoản trên các sàn thương mại điện tử trong nước và quốc tế | DN | |||||||||
| 2 | Hỗ trợ chi phí thuê địa điểm, thiết kế và dàn dựng gian hàng, vận chuyển sản phẩm trưng bày, chi phí đi lại, chi phí ăn, ở cho đại diện của doanh nghiệp tham gia hội chợ triển lãm xúc tiến thương mại | ||||||||||
| 2.1 | Hội chợ triển lãm xúc tiến thương mại trong nước | DN | |||||||||
| 2.2 | Hội chợ triển lãm xúc tiến thương mại nước ngoài | DN | |||||||||
| II | Hỗ trợ đào tạo, huấn luyện chuyên sâu cho doanh nghiệp kinh doanh bền vững *(=1+2+3+4) | ||||||||||
| 1 | Hỗ trợ tham gia các khóa đào tạo về khởi sự kinh doanh, quản trị doanh nghiệp | ||||||||||
| 1.1 | Khóa đào tạo trực tiếp | Khóa | |||||||||
| 1.2 | Khóa đào tạo trực tiếp tại doanh nghiệp | Khóa | |||||||||
| 2 | Hỗ trợ đào tạo huấn luyện chuyên sâu về áp dụng và phát triển mô hình kinh doanh bền vững | ||||||||||
| 2.1 | Đào tạo huấn luyện chuyên sâu trong nước | Khóa | |||||||||
| 2.2 | Đào tạo huấn luyện chuyên sâu ở nước ngoài | Khóa | |||||||||
| 3 | Khóa đào tạo không có ngân sách nhà nước hỗ trợ | Khóa | |||||||||
| 4 | Hoạt động/ Nội dung hỗ trợ doanh nghiệp KDBV khác… | ||||||||||
| C | Hoạt động quản lý Chương trình *(=I+II+III) | ||||||||||
| I | Xây dựng tài liệu hướng dẫn, quy trình thực hiện | ||||||||||
| 1 | …. | ||||||||||
| 2 | …. | ||||||||||
| II | Xây dựng khung đánh giá, giám sát Chương trình | ||||||||||
| 1 | …. | ||||||||||
| 2 | …. | ||||||||||
| III | Đánh giá việc thực hiện Chương trình và xây dựng báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ | ||||||||||
| 1 | …. | ||||||||||
| 2 | …. | ||||||||||
| Tổng cộng (=A+B+C) | |||||||||||
(*): lập dự toán chi tiết theo hướng dẫn của Bộ Tài chính
Người lập (Ký, họ tên) |
…., ngày … tháng….. năm…. Lãnh đạo đơn vị (Ký, họ tên, đóng dấu cơ quan) |
Phiên giao dịch cuối tuần qua đón nhận các số liệu vĩ mô tháng 3 và quý 1/2024 rất sớm. Tuy nhiên trạng thái giao dịch giằng co rồi sụt giảm khiến các quan điểm trở nên khác biệt đáng kể…
Phiên giao dịch cuối tuần qua đón nhận các số liệu vĩ mô tháng 3 và quý 1/2024 rất sớm. Tuy nhiên trạng thái giao dịch giằng co rồi sụt giảm khiến các quan điểm trở nên khác biệt đáng kể.
Theo quan điểm thận trọng, thông tin tốt nên có hiệu ứng tốt trong giao dịch. Phiên cuối tuần qua thị trường có nhiều thời gian để phản ứng vì thông tin được công bố sớm. Do đó nếu thông tin thực sự khiến thị trường hài lòng thì đã tăng ngay, nhưng thực tế thị trường lại dao động giảm dần.
Quan điểm tích cực hơn lại cho rằng hiện tượng rung lắc trong phiên cuối tuần không hẳn là do yếu tố cơ bản bị xem nhẹ, mà nhà đầu tư cần thời gian để “ngấm”.
Các ý kiến trung tính hơn đánh giá quá trình vận động đi lên vẫn có diễn biến tăng giảm hàng ngày và không có gì bất thường. Tuy nhiên mốc tâm lý 1.300 điểm vẫn là một đỉnh cao khi nhìn lại xu hướng tăng khởi đầu từ tháng 11 năm ngoái, tức là đã kéo dài tới 5 tháng. Do đó việc VN-Index chạm tới hay vượt 1.300 điểm không phải vấn đề, mà liệu có đi tiếp được hay không và bao xa trong ngắn hạn.
Việc thanh khoản đã sụt giảm khá nhiều trong tuần qua cũng được các chuyên gia nhìn nhận khác nhau. Tính riêng khớp lệnh HoSE và HNX giảm gần 27% về giá trị và giảm 20% về khối lượng so với tuần trước. Có ý kiến cho rằng việc một công ty chứng khoán có thị phần 7-8% dừng giao dịch do sự cố thì thanh khoản yếu đi là bình thường. Thậm chí thanh khoản giảm còn là tốt vì thể hiện xu hướng giữ cổ phiếu lại.
Quan điểm khác lại cho rằng thị trường thực ra vẫn luẩn quẩn trong vùng kháng cự và sau tuần thanh khoản cao kỷ lục, tuần qua giao dịch giảm thể hiện sự thận trọng gia tăng. Nhà đầu tư nước ngoài cũng rút vốn quy mô lớn, tuần qua tổng giá trị bán ròng khoảng 4.716 tỷ đồng, cao nhất kể từ tuần thứ 11 trong năm 2022.

Thời điểm ra thông tin GDP và các thông tin vĩ mô khác của quý 1/2024 ở trong phiên giao dịch, nên nếu các yếu tố vĩ mô đủ sức hỗ trợ thị trường tiếp tục tăng và vượt 1.300 điểm thì tôi nghĩ đã kéo và vượt trong phiên thứ 6 rồi.
Ông Nguyễn Việt Quang
Nguyễn Hoàng – VnEconomy
Thị trường rung lắc khá mạnh trong phiên cuối tuần đúng thời điểm đón nhận thông tin vĩ mô khá tích vực với mức tăng trưởng GDP 5,66%. Anh chị đánh giá các yếu tố vĩ mô có đủ sức hỗ trợ thị trường tiếp tục tăng và vượt mốc 1.300 điểm?
Ông Nguyễn Văn Sơn – Chuyên gia phân tích Công ty CP Chứng khoán Phú Hưng
Theo tôi diễn biến của thị trường trong ngắn hạn sẽ chịu sự tác động của nhiều yếu tố, ở cả mặt vĩ mô là nền kinh tế chung, lẫn vi mô là kết quả hoạt động của doanh nghiệp, hay cả các yếu tố quốc tế. Diễn biến thị trường rung lắc khá mạnh trong phiên cuối tuần đúng thời điểm đón nhận thông tin vĩ mô tích cực, không hẳn là do yếu tố cơ bản của nền kinh tế bị thị trường xem nhẹ đi, mà có thể là nhà đầu tư cần thêm thời gian để “ngấm” và “nhận ra” những chuyển động tích cực từ nền kinh tế thực.
Số liệu báo cáo vĩ mô quý 1 không chỉ GDP có mức tăng trưởng tích cực 5,66%, mà còn tới từ hàng loạt các chỉ số khác như thặng dư thương mại lớn 8,08 tỷ USD (cùng kỳ 2023 là 4.49 tỷ USD) hay như FDI tăng khá… đều là những tín hiệu củng cố hơn nữa kỳ vọng nền kinh tế Việt Nam đã đi qua giai đoạn khó khăn nhất và đang dần bước vào giai đoạn khởi sắc hơn.
Do đó, tôi tin rằng yếu tố vĩ mô khởi sắc cùng với chính sách tiền tệ duy trì nới lỏng, tiếp tục là những động lực chính giúp cho thị trường chứng khoán tăng điểm và vượt ngưỡng 1.300 điểm.
Ông Lê Đức Khánh – Giám đốc phân tích, Chứng khoán VPS
Diễn biến thị trường chứng khoán thế giới khả quan – Các chỉ số chứng khoán Mỹ DJ và S&P500 vượt đỉnh mới. Tăng trưởng GDP quý 1/2024 của Việt Nam khả quan, thanh khoản thị trường vẫn duy trì ở mức cao – đây là thông tin hỗ trợ thị trường vượt mốc 1.300 điểm trong tháng 4.
GDP quý 1/2024 bật tăng 5,66%, cao nhất trong vòng 4 năm

Xu thế dòng tiền: VN-Index có cơ hội đi tiếp, mốc 1.300 điểm trong tầm tay?

Bà Nguyễn Thị Thảo Như – Giám đốc cao cấp Phòng Khách hàng cá nhân, Chứng khoán Rồng Việt
Tăng trưởng GDP cao nhất trong năm năm vừa qua chắc chắn là một điểm đầy tích cực cho tâm lý nhà đầu tư. Chỉ cần hơn 1,2% tăng điểm thì thị trường đã vượt được mốc 1.300 điểm thì câu hỏi thật sự ở thời điểm hiện tại là thị trường sẽ vượt mốc 1.300 điểm bao xa chứ không còn là có vượt mốc 1.300 điểm hay không.
Nếu nhìn lại từ cuối tháng 10/2023, thị trường đã tăng giá gần 28% kéo dài trong 5 tháng và đây là một mức tăng giá cao của một xu hướng giá. Thông tin vĩ mô về tăng trưởng GDP thường chưa thực sự phản ánh hay thể hiện được đúng tình hình hiện tại của các doanh nghiệp, đặc biệt là trong bối cảnh có nhiều biến động trong những năm gần đây. Tuy nhiên với triển vọng vẫn còn nhiều khó khăn ở nhiều ngành nghề, mức định giá ở các cổ phiếu đã không còn rẻ thì khả năng một đợt tăng giá mạnh khi VN-Index vượt 1.300 điểm là không nhiều.
Ông Nguyễn Việt Quang – Giám đốc Trung tâm kinh doanh 3 Yuanta Hà Nội
Thời điểm ra thông tin GDP và các thông tin vĩ mô khác của quý 1/2024 ở trong phiên giao dịch, nên nếu các yếu tố vĩ mô đủ sức hỗ trợ thị trường tiếp tục tăng và vượt 1.300 điểm thì tôi nghĩ đã kéo và vượt trong phiên thứ 6 rồi. Phiên cuối tuần VN-Index cách mốc 1.300 chỉ gần 10 điểm nhưng thông tin không tạo được hiệu ứng tăng mà thị trường còn giảm điểm.
Nguyễn Hoàng – VnEconomy
Kết thúc tuần này cũng là chốt quý 1/2024, áp lực bán có tín hiệu tăng mạnh, nhất là khối ngoại rút tiền về quy mô lớn và xác lập kỷ lục bán ròng tới hơn 4.700 tỷ đồng. Đây là hiệu ứng chốt NAV thông thường, rung lắc khi tiến gần tới mốc 1.300 điểm như anh chị dự kiến tuần trước, hay thực sự thị trường đang có nguy cơ đạt đỉnh?
Bà Nguyễn Thị Thảo Như – Giám đốc cao cấp Phòng Khách hàng cá nhân, Chứng khoán Rồng Việt
Theo tôi hiệu ứng chốt NAV của khối ngoại có thể đang diễn ra khi thị trường đã tăng giá đáng kể trong 5 tháng qua. Diễn biến giao dịch của khối ngoại trước đây thường là dấu hiệu hay dự báo cho một xu hướng sắp tới của thị trường. Tuy nhiên, trong 3-4 năm trở lại đây giá trị giao dịch của khối ngoại không còn chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá trị giao dịch của thị trường khi số lượng nhà đầu tư trong nước tham gia vào thị trường chứng khoán đã tăng trưởng vượt bậc.
Chỉ số VN-Index đang ở một mức giá nhạy cảm mà có thể không chỉ khối ngoại mà còn cả khối nội sẽ bắt đầu có những lo lắng về việc đạt đỉnh của thị trường. Áp lực bán đang dần tăng lên trong khi giá trị giao dịch đang giảm dần và những thông tin về kế hoạch kinh doanh của các doanh nghiệp chưa thật sự tích cực đang chưa ủng hộ cho việc thị trường có thể đạt được những đỉnh cao mới trong thời gian ngắn sắp tới.
Ông Nguyễn Việt Quang – Giám đốc Trung tâm kinh doanh 3 Yuanta Hà Nội
Tuần vừa rồi khối ngoại có một tuần bán ròng rất mạnh, dưới góc nhìn của tôi thì hiện tượng này do 2 yếu tố: Hiệu ứng chốt NAV và chốt lợi nhuận khi VN-Index đã có 5 tháng tăng liên tục và đang chạm vùng kháng cự. Còn thị trường hiện đang “sideway” vẫn có nguy cơ đạt đỉnh và có tạo đỉnh hay không thì để xem VN-Index có giảm dưới 1.233,5 điểm không vì khi đó chỉ số sẽ hình thành mô hình 3 đỉnh.

Diễn biến bán ròng đột biến của khối ngoại trong tuần chốt quý vừa qua, có thể là một tín hiệu tốt với thị trường. Nếu như sang tuần tới, giá trị bán ròng giảm sẽ là dấu hiệu xác nhận cho suy luận rằng cao trào bán ròng đã đạt đỉnh và áp lực sẽ dần hạ nhiệt ở giai đoạn tới.
Ông Nguyễn Văn Sơn
Ông Nguyễn Văn Sơn – Chuyên gia phân tích Công ty CP Chứng khoán Phú Hưng
Theo tôi hoạt động bán ròng của khối ngoại là một xu hướng đã kéo dài nhiều tháng nay chứ không hẳn là một diễn biến mang tính thời điểm. Và phiên giảm điểm cuối tuần qua chỉ mới dừng lại ở tín hiệu rung lắc kỹ thuật chứ chưa phải là một tín hiệu đảo chiều hay là một nguy cơ đạt đỉnh.
Theo số liệu thống kê trên sàn HSX, thì trong vòng 12 tháng qua kể từ đầu tháng 4/2023 tới nay, khối ngoại chỉ có một tháng mua ròng nhẹ vào 1/2024, còn lại là bán ròng 11/12 tháng. Và giá trị bán ròng thường tăng mạnh vào tháng cuối mỗi quý, như 9, 12 và tháng 3 vừa qua. Với giá trị bán ròng hơn 11,2 nghìn tỷ đã đưa tháng 3 vừa qua thành tháng rút ròng mạnh nhất của khối ngoại trong vòng một năm qua, cũng như với giá trị bán ròng hơn 4,7 nghìn tỷ đồng ở tuần cuối cùng của quý 1/2024 cho thấy khối ngoại dường như muốn “bán chạy chỉ tiêu” cho đủ số lượng đã định trước và “kịp tiến độ” vào thời điểm kết thúc quý giao dịch.
Do vậy, diễn biến bán ròng đột biến của khối ngoại trong tuần chốt quý vừa qua, có thể là một tín hiệu tốt với thị trường. Nếu như sang tuần tới, giá trị bán ròng giảm sẽ là dấu hiệu xác nhận cho suy luận rằng cao trào bán ròng đã đạt đỉnh và áp lực sẽ dần hạ nhiệt ở giai đoạn tới.
Đồng thời, dưới góc nhìn kỹ thuật thì diễn biến chỉ số xuất hiện một phiên giảm điểm sau nhịp tăng dài cũng là diễn biến bình thường. Điều quan trọng là khối lượng giao dịch không quá cao, cho thấy nhà đầu tư vẫn tự tin nắm giữ cổ phiếu và phiên giảm có thể là một tín hiệu rung lắc bình thường.
Nhìn chung, tôi nhận thấy cơ hội VN-Index hướng lên thử thách ngưỡng tâm lý 1.300 điểm là vẫn còn. Và nếu áp lực bán ròng của khối ngoại hạ nhiệt cũng như sự cố giao dịch tại công ty chứng khoán lớn sớm được giải quyết, thì thị trường càng sớm tiến lên mục tiêu hơn.
Ông Lê Đức Khánh – Giám đốc phân tích, Chứng khoán VPS
Tôi cho rằng mốc kháng cự mạnh 1.290 – 1.300 điểm cần lưu ý đặc biệt với các nhà đầu tư giao dịch ngắn hạn, nhưng với những nhà đầu tư cổ phiếu nói chung năm nay chúng ta hoàn toàn có thể tin tưởng vào xu hướng tăng tiếp theo của thị trường. Các mốc kháng cự ngắn hạn cũng có thể giúp các nhà đầu tư chốt lời và cơ cấu danh mục để sau đó tái lựa chọn các cổ phiếu mạnh để có hiệu quả đầu tư tốt hơn.
Nguyễn Hoàng – VnEconomy
Bước sang tuần thứ 3 Ngân hàng nhà nước phát hành tín phiếu và quy mô đang giảm đi khá nhanh sau khi hút về xấp xỉ 170 ngàn tỷ đồng. Năm 2023 sau quy mô rút vốn khoảng 120 ngàn tỷ thì các đợt phát hành cũng bắt đầu nhỏ lại và hết kỳ hạn 28 ngày cho đợt phát hành đầu tiên với tổng hút khoảng 260 ngàn tỷ thì Ngân hàng nhà nước bắt đầu bơm ngược tiền ra. Liệu đợt hút vốn năm 2024 này có sắp kết thúc khi đến ngày 8/4 tới là thời điểm đáo hạn đầu tiên?
Ông Nguyễn Việt Quang – Giám đốc Trung tâm kinh doanh 3 Yuanta Hà Nội
Theo báo cáo của Tổng cục thống kê thì tháng 3 CPI tháng 3/2024 giảm 0,23% (khu vực thành thị giảm 0,21%; khu vực nông thôn giảm 0,25%) so với tháng trước. Tôi nghĩ chính vì tín hiệu tích cực này nên quy mô phát hành tín phiếu tuần này giảm đáng kể. Nhưng còn 2 tiêu chí mà Ngân hàng nhà nước hướng mục tiêu là chênh lệch lãi suất và tỷ giá thì chưa được cải thiện nên theo tôi khả năng Ngân hàng nhà nước vẫn sẽ tiếp tục hút ròng trong thời gian tới.

Tôi cho rằng mốc kháng cự mạnh 1.290 – 1.300 điểm cần lưu ý đặc biệt với các nhà đầu tư giao dịch ngắn hạn, nhưng với những nhà đầu tư cổ phiếu nói chung năm nay chúng ta hoàn toàn có thể tin tưởng vào xu hướng tăng tiếp theo của thị trường.
Ông Lê Đức Khánh
Ông Nguyễn Văn Sơn – Chuyên gia phân tích Công ty CP Chứng khoán Phú Hưng
Theo quan sát cá nhân, tôi thấy việc Ngân hàng nhà nước Việt Nam (SBV) hút thanh khoản thông qua thị trường mở là nhằm mục đích kéo lãi suất trên thị trường liên ngân hàng tăng lên, từ đó can thiệp gián tiếp vào thị trường ngoại hối thông qua việc hạn chế đầu cơ nội địa do “Gap” lãi suất giữa VND và USD có sự chênh lệch lớn.
Hiện tại, sau khi SBV hút ròng gần 170 nghìn tỷ đồng kỳ hạn 28 ngày, với lãi suất trúng thầu tăng từ 1.4% lên 2.49%, đã tác động mạnh lên lãi suất liên ngắn hàng với gần như tất cả các kỳ hạn từ 1 tháng trở xuống đều có xu hướng tăng trở lại. Và khi hiệu quả của việc hút ròng là làm cho lãi suất liên ngân hàng tăng cũng như hạ nhiệt được đà tăng của tỷ giá thì cũng là lúc SBV xem xét giảm bớt việc hút ròng.
Theo tôi quan sát thì giá trị hút ròng ở lần này của SBV sẽ không nhiều như lần tháng 9 và 10/2023, nhưng khi hết kỳ hạn 28 ngày thì không hẳn SBV sẽ bơm trả lại lượng tín phiếu ngay. Điều này có nghĩa là nếu cần thiết thì SBV sẽ vẫn duy trì môt lượng hút ròng cố định bằng cách, khi tới kỳ đáo hạn khoản tín phiếu thì SBV sẽ phát hành một lô tín phiếu tương ứng nhằm duy trì lượng hút ròng ổn định ở một mức nào đó, để đạt được mục đích tiêu cuối cùng là ổn định tỷ giá.
Do đó, tôi cho rằng, SBV có thể đã gần tiệm cận tới khối lượng cần hút ròng, nhưng thời điểm để SBV bơm trả lại thị trường lượng đã hút thì còn phụ thuộc vào diễn biến thực tế của tỷ giá. Và chúng ta cần chờ đợi tới ngày 9/4 thì mới biết được hành động tiếp theo của SBV là gì.
Bà Nguyễn Thị Thảo Như – Giám đốc cao cấp Phòng Khách hàng cá nhân, Chứng khoán Rồng Việt
Nếu nhìn tổng thể, các cường quốc trên thế giới vẫn đang và sẽ bơm tiền ra thị trường sau một thời gian thắt chặt tiền tệ để kìm hãm lạm phát. Các đợt phát hành tín phiếu đang giảm dần, dòng tiền đang được bơm vào thị trường nhiều hơn đang là xu hướng của chính sách tiền tệ trong thời gian tới. Chúng ta sẽ nhìn thấy điều này rõ ràng hơn khi mà các nước lớn bắt đầu giảm lãi suất để thúc đẩy tăng trưởng của nền kinh tế. Trong một vài tuần đến, chưa có điều gì chắc chắn sẽ xảy ra nhưng nếu nhìn trong cả năm 2024, dòng tiền dồi dào được đẩy vào lưu thông chắc chắn là điều tích cực cho thị trường chứng khoán.
Ông Lê Đức Khánh – Giám đốc phân tích, Chứng khoán VPS
Theo tôi đợt hút tiền có thể sớm kết thúc ở giai đoạn đầu tháng 4. Tuy nhiên đây không phải là vấn đề mà chúng ta quá bận tâm bởi dòng tiền vẫn đang duy trì khá ổn định trên thị trường chứng khoán mà không có những đợt điều chỉnh quá lớn và kéo dài. Thị trường có thể không tăng nhiều hoặc biến động trong biên độ nhưng sẽ vẫn có các cổ phiếu có mức tăng điểm tốt hơn kỳ vọng.
Nguyễn Hoàng – VnEconomy
Thanh khoản khớp lệnh trung bình tuần này đã sụt giảm đáng kể so với tuần trước ngay cả khi có đột biến như giao dịch của TCB hôm 28/3. Liệu đây có phải là tín hiệu nhà đầu tư thận trọng hơn, dòng tiền chốt lời rút ra đang tạm nghỉ thay vì xoay vòng trở lại thị trường?

Chỉ số VN-Index đang ở một mức giá nhạy cảm mà có thể không chỉ khối ngoại mà còn cả khối nội sẽ bắt đầu có những lo lắng về việc đạt đỉnh của thị trường. Áp lực bán đang dần tăng lên trong khi giá trị giao dịch đang giảm dần và những thông tin về kế hoạch kinh doanh của các doanh nghiệp chưa thật sự tích cực đang chưa ủng hộ cho việc thị trường có thể đạt được những đỉnh cao mới trong thời gian ngắn sắp tới.
Bà Nguyễn Thị Thảo Như
Ông Nguyễn Việt Quang – Giám đốc Trung tâm kinh doanh 3 Yuanta Hà Nội
Theo tôi tuần vừa rồi khớp lệnh sụt giảm đáng kể so với tuần trước đến từ 2 nguyên nhân:
i) Thị trường đang ở vùng kháng cự và loanh quanh không vượt được nên việc nhà đầu tư thận trọng giao dịch chậm lại là điều dễ hiểu.
ii) Hệ thống công ty chứng khoán VND (Công ty chứng khoán đứng thứ 3 về thị phần) bị tấn công và ngắt kết nối tuần vừa rồi cũng là một nguyên nhân dẫn đến thanh khoản sụt giảm.
Bà Nguyễn Thị Thảo Như – Giám đốc cao cấp Phòng Khách hàng cá nhân, Chứng khoán Rồng Việt
Có thể nhà đầu tư đang cảm thấy lo lắng nhiều hơn là sự hồ hởi như trong giai đoạn trước đây. Mặc dù, như đã nhận định là thị trường chưa có những động lực đủ mạnh mẽ để tiếp tục đà tăng trong 5 tháng qua nhưng thực sự chúng ta cũng chưa thể bỏ qua sự lạc quan của nhà đầu tư về thị trường trong năm 2024. Vẫn có thể sự chững lại của thị trường trong tuần qua chỉ là tâm lý nhất thời khi thị trường tiến gần đến những cột mốc quan trọng, những điểm xoay chiều tâm lý hay là những điểm đánh dấu những bức phá, bùng nổ của thị trường. Trong những thời điểm như vậy, nhà đầu tư thận trọng có thể tạm thời đứng ngoài và theo dõi thêm diễn biến của thị trường thay vì vội vàng ra quyết định đầu tư.
Ông Lê Đức Khánh – Giám đốc phân tích, Chứng khoán VPS
Tôi cho rằng dòng tiền vẫn sẽ chảy xoay vòng ở các nhóm ngành và sẽ tiếp tục phân hóa giữa các nhóm ngành và vào nhóm cổ phiếu riêng lẻ đặc biệt. Nhà đầu tư cũng có thể thận trọng khi kiểm soát danh mục đầu tư thay vì đầu tư dàn trải nhiều cổ phiếu thì có thể thu hẹp co gọn và đầu tư có trọng tâm hơn.
Ông Nguyễn Văn Sơn – Chuyên gia phân tích Công ty CP Chứng khoán Phú Hưng
Thanh khoản thị trường sụt giảm đáng kể so với tuần trước đó là một tín hiệu kém tích cực nếu ở bối cảnh bình thường, nhưng do thị trường đang trong trạng thái giao dịch với một công ty chứng khoán lớn phải ngừng giao dịch thì mức thanh khoản như vậy vẫn là một điểm sáng.
Như chúng ta đã biết, tuần qua một công ty chứng khoán lớn với thị phần môi giới chiếm khoản 7-8% đã gặp sự cố và dừng giao dịch, diễn biến này ngoài tác động tâm lý lên thị trường thì cũng vô hình trung làm sụt giảm đi lượng giao dịch tương ứng với mức đóng góp thị phần trên. Đồng thời, theo số liệu thống kê thanh khoản giao dịch bình quân trong tuần qua trên HSX là khoảng gần 900 triệu cổ phiếu/phiên, cũng chỉ giảm hơn 9% so với bình quân 20 gần nhất. Điều này cho thấy, dòng tiền hoạt động trên thị trường nếu xét cả phần phải ngừng giao dịch thì vẫn đang ở trạng thái bình thường.
Và nếu chúng ta kết hợp với số liệu bán ròng cực mạnh từ khối ngoài ở tuần qua thì sẽ nhận thấy dòng tiền nội đang rất dồi dào, không chỉ giúp xoa dịu đi lo ngại về sự cố ngừng giao dịch mà còn hấp thụ hết sức ép từ khối ngoại. Do đó, nếu sự cố tại công ty chứng khoán sớm được khắc phục kèm theo kỳ vọng tăng lên trong mùa báo cáo quý 1 sắp diễn ra, thì tôi cho rằng thanh khoản có thể sẽ sớm tăng trở lại.
Chiều 29/3, tại cuộc họp báo thường kỳ quý I/2024 của Bộ Tài chính, ông Trương Bá Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát chính sách thuế, phí và lệ phí (Bộ Tài chính) thông tin về việc điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh cho người nộp thuế.
SỬA ĐỔI NĂM 2025 HOẶC KHI CPI BIẾN ĐỘNG MẠNH TRÊN 20%
Ông Trương Bá Tuấn cho biết Bộ Tài chính có báo cáo lên Chính phủ liên quan đến vấn đề đề nghị điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh cho người nộp thuế theo đúng yêu cầu tại Nghị quyết 20/NQ-CP 2024 phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 01/2024.
Nghị quyết nêu rõ Chính phủ giao Bộ Tài chính nghiên cứu, đề xuất Chính phủ điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh trong tính thuế thu nhập cá nhân để hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho đời sống của người dân.
Theo ghi nhận, kể từ khi các Luật Thuế thu nhập cá nhân Quốc hội thông qua năm 2009, Bộ Tài chính đã chủ động rà soát, tham mưu Quốc hội điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh qua các thời kỳ cho phù hợp với tình hình thực tế.
Theo đó, từ ngày 1/1/2009, mức giảm trừ đối với đối tượng nộp thuế là 4 triệu đồng/tháng (48 triệu đồng/năm); mức giảm trừ đối với mỗi người phụ thuộc là 1,6 triệu đồng/tháng.
Từ ngày 1/7/2013, mức giảm trừ đối với đối tượng nộp thuế là 9 triệu đồng/tháng (108 triệu đồng/năm); mức giảm trừ đối với mỗi người phụ thuộc là 3,6 triệu đồng/tháng.
Từ kỳ tính thuế năm 2020, mức giảm trừ đối với đối tượng nộp thuế là 11 triệu đồng/tháng (132 triệu đồng/năm); mức giảm trừ đối với mỗi người phụ thuộc là 4,4 triệu đồng/tháng.
Làm rõ về việc điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh, đại diện Bộ Tài chính cho biết thứ nhất, về thẩm quyền, theo quy định của Luật Thuế thu nhập cá nhân hiện hành, một điểm mới khác biệt so với trước đây, đó là thay vì đợi Quốc hội thông qua việc sửa đổi luật thuế thì Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh phù hợp khi chỉ số CPI biến động trên 20% so với lần điều chỉnh gần nhất.
Căn cứ vào điều đó, năm 2020, trên cơ sở theo dõi chỉ số giá giai đoạn từ 2012 – 2020, Bộ Tài chính tham mưu Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết 954/2020/UBTVQH14 ngày 2/6/2020 điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh của thuế thu nhập cá nhân.

“Theo dõi diễn biến của chỉ số CPI từ năm 2020 đến nay, so với thời điểm điều chỉnh gần nhất, biến động của chỉ số CPI chưa đến mức 20%.
Thời gian tới, Bộ Tài chính sẽ tiếp tục theo dõi diễn biến, căn cứ vào những quy định được nêu tại Luật Thuế thu nhập cá nhân hiện hành để có phương án tăng khi chỉ số CPI biến động”.
Thứ hai, liên quan đến việc sửa Luật Thuế thu nhập cá nhân, ông Trương Bá Tuấn, cho biết Bộ Tài chính được giao Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao sửa đổi toàn diện các luật thuế, báo cáo Quốc hội sửa đổi theo lộ trình phù hợp.
Theo đó, trong năm 2024 sẽ tập trung sửa đổi ba luật thuế, đó là Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Thuế giá trị gia tăng và Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt.
Còn Luật Thuế thu nhập cá nhân, theo lộ trình sẽ được sửa đổi vào năm 2025 như Bộ Tài chính báo cáo Chính phủ và Chính phủ báo cáo Quốc hội.
Khi sửa đổi luật thuế, ông Tuấn cho biết sẽ dự kiến nghiên cứu sửa đổi tổng thể các nội dung liên quan tới chính sách thuế thu nhập cá nhân như: thu nhập chịu thuế, thu nhập miễn thuế và cấu trúc biểu thuế cùng các vấn đề liên quan đến giảm trừ gia cảnh…
XEM XÉT ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH, GỠ KHÓ CHO NGƯỜI DÂN
Thời gian qua, mức giảm trừ gia cảnh bản thân và người phụ thuộc đã không còn phù hợp trong bối cảnh lạm phát gia tăng, cuộc sống gặp nhiều khó khăn khiến người dân, đại biểu Quốc hội lên tiếng và đề xuất sớm sửa đổi.
Tại phiên chất vấn Bộ trưởng Bộ Tài chính Hồ Đức Phớc về vấn đề thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công vừa qua, đại biểu Quốc hội Nguyễn Hoàng Bảo Trân (Bình Dương), cho biết cử tri cho rằng mức giảm trừ gia cảnh 11 triệu đồng/tháng cho cá nhân người nộp thuế và 4 triệu đồng/tháng cho một người phụ thuộc khi tính thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân được áp dụng từ ngày 1/7/2020 đến nay không còn phù hợp.
Theo đại biểu Quốc hội tỉnh Bình Dương, chỉ số lạm phát tăng hằng năm và tình hình kinh tế đang gặp nhiều khó khăn, do đó, đại biểu đề nghị có phương án xét tăng mức giảm trừ gia cảnh bản thân và người phụ thuộc khi xác định thuế thu nhập cá nhân thời gian tới.
Đại biểu Trần Hoàng Ngân, đoàn Đại biểu Quốc hội TP. Hồ Chí Minh cũng đề nghị quan tâm hơn nữa đối với việc nâng mức giảm trừ gia cảnh trong vấn đề tính thuế thu nhập cá nhân, từ đó mới có thể tăng tiêu dùng và hỗ trợ tăng trưởng trong thời gian tới.
Liên quan đến các chính sách hỗ trợ người dân vượt qua giai đoạn khó khăn như hiện nay, ông Trương Bá Tuấn, cho biết thêm năm 2024, cơ quan quản lý khẩn trương tổ chức thực hiện hiệu quả chính sách giảm 2% thuế suất thuế giá trị gia tăng như đã áp dụng năm 2023 đối với một số nhóm hàng hóa, dịch vụ đang áp dụng mức thuế suất thuế giá trị gia tăng 10% đã được Quốc hội thông qua.
Ngoài ra, Bộ Tài chính trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định tiếp tục giảm mức thuế bảo vệ môi trường đối với xăng, dầu, mỡ nhờn như đã áp dụng của năm 2023 và triển khai ngay đầu năm 2024.
Theo Cục Quản lý, giám sát chính sách thuế, phí và lệ phí (Bộ Tài chính), các chính sách này đã nhận được sự đồng tình, đánh giá cao của các doanh nghiệp và người dân.
Thời gian tới, Bộ Tài chính tiếp tục theo sát diễn biến tình hình kinh tế – xã hội; tiếp tục nghiên cứu, đề xuất các giải pháp chính sách về thu ngân sách và có các giải pháp về chính sách thuế phù hợp để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, người dân, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Trong Báo cáo Cập nhật kinh tế tại khu vực Đông Á và Thái Bình Dương với tiêu đề “Nền tảng Vững chắc cho Tăng trưởng” được công bố bởi Ngân Hàng Thế Giới (WB) vào ngày 1/4, WB dự báo tăng trưởng GDP của Việt Nam trong năm 2024 đạt mức 5.5%. Con số này vẫn giữ nguyên so với Báo cáo triển vọng tăng trưởng kinh tế năm 2024 mà WB công bố hồi đầu năm
Bên cạnh đó, WB cũng dự báo rằng tăng trưởng GDP của Việt Nam trong năm 2025 là 6% và Việt Nam tiếp tục nằm trong nhóm đầu thế giới về tốc độ tăng trưởng kinh tế.
Ông Aaditya Mattoo – Chuyên gia kinh tế của Ngân hàng thế giới (WB) phụ trách khu vực Đông Á – Thái Bình Dương, giải thích rằng dự báo về mức tăng trưởng khoảng 5% cho Việt Nam là dựa trên các yếu tố như tiềm năng phục hồi thương mại toàn cầu và khả năng phục hồi kinh tế của chính Việt Nam. Bên cạnh đó, khu vực bất động sản là vấn đề quan ngại và có sự bất định về chính sách hay vẫn chưa có những cải cách cần thiết, cấp bách như trong lĩnh vực dịch vụ, cải thiện đầu tư, thực hiện đầu tư công, phối kết hợp giữa các địa phương
Mặc dù tăng trưởng GDP được dự báo là đạt 5,5% và được đánh giá là tốt hơn so với nhiều quốc gia khác trong khu vực, nhưng mức tăng trưởng này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng phát triển như Việt Nam. “Đích đến cho việc lựa chọn Trung Quốc + 1, đó chính là Việt Nam nên Việt Nam có nhiều cơ hội thu hút đầu tư rất lớn. Vì vậy, Việt Nam chưa nên hài lòng ở con số tăng trưởng GDP 5,5% với một quốc gia có tiềm năng tăng trưởng lớn,” Ông Aaditya Mattoo nhấn mạnh.

Báo cáo của WB cũng chỉ ra rằng các nước đang phát triển ở khu vực Đông Á và Thái Bình Dương đang tăng trưởng nhanh hơn so với phần còn lại của thế giới nhưng chậm hơn so với trước đại dịch. Trong khi thương mại toàn cầu phục hồi và các điều kiện tài chính nới lỏng sẽ hỗ trợ các nền kinh tế trong khu vực, thì chủ nghĩa bảo hộ ngày càng gia tăng và sự bất ổn về chính sách sẽ làm giảm tốc độ tăng trưởng.
Cụ thể, tăng trưởng khu vực được dự đoán sẽ giảm xuống còn 4,5% vào năm 2024 từ mức 5,1% của năm ngoái. Tăng trưởng ở các nước đang phát triển ở Đông Á và Thái Bình Dương, ngoại trừ Trung Quốc, được dự đoán sẽ tăng lên 4,6% trong năm nay, từ mức 4,4% vào năm 2023. Tăng trưởng ở Trung Quốc được dự đoán sẽ giảm xuống mức 4,5% từ mức 5,2% vào năm 2023 do nợ cao, lĩnh vực bất động sản yếu và xung đột thương mại đè nặng lên nền kinh tế.
Trong số các quốc đảo Thái Bình Dương, tăng trưởng được dự báo sẽ chậm lại còn 3,6% vào năm 2024 từ mức 5,6% của năm ngoái khi quá trình phục hồi sau đại dịch tan biến. Sự chậm lại một phần phản ánh việc bình thường hóa tăng trưởng ở Fiji lên 3,5% vào năm 2024 từ mức đặc biệt mạnh 8% vào năm ngoái.
Bà Manuela V. Ferro – Phó Chủ tịch Ngân hàng thế giới (WB) phụ trách khu vực Đông Á-Thái Bình Dương chia sẻ rằng khu vực Đông Á và Thái Bình Dương đang đóng góp mạnh mẽ vào tăng trưởng kinh tế thế giới, ngay cả khi khu vực này phải đối mặt với môi trường toàn cầu đầy thách thức và bất ổn hơn, dân số già đi và tác động của biến đổi khí hậu. “Các quốc gia trong khu vực có thể duy trì đà tăng trưởng bằng cách đẩy nhanh việc mở cửa nhiều hoạt động hơn cho đầu tư khu vực tư nhân, giải quyết các thách thức trong lĩnh vực tài chính và tăng năng suất”.
Tuy nhiên, triển vọng tăng trưởng vẫn có thể gặp phải những rủi ro suy giảm, bao gồm sự suy giảm lớn hơn dự kiến của nền kinh tế toàn cầu, lãi suất cao hơn ở các nền kinh tế lớn, sự không chắc chắn gia tăng trên toàn thế giới về các chính sách kinh tế và sự gia tăng căng thẳng địa chính trị.
Theo Ông Aaditya Mattoo, mặc dù tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người ở khu vực Đông Á và Thái Bình Dương đã vượt qua hầu hết các nền kinh tế đang phát triển khác trong những thập kỷ gần đây, nhưng nó lại được thúc đẩy bởi đầu tư hơn là tăng trưởng năng suất. “Hành động chính sách táo bạo nhằm giải phóng cạnh tranh, cải thiện cơ sở hạ tầng và cải cách giáo dục có thể đem lại sức sống mới cho nền kinh tế khu vực,” Ông Aaditya Mattoo nói thêm.
Tâm điểm chú ý của giới đầu tư đang hướng tới đồng yên, khi đồng tiền của Nhật Bản trượt về mức thấp nhất kể từ năm 1990, đặt ra khả năng Tokyo có động thái can thiệp…
Đồng USD duy trì xu hướng tăng giá sau khi dữ liệu công bố ngày thứ Hai (1/4) cho thấy lĩnh vực sản xuất của Mỹ đã tăng trưởng trở lại lần đầu tiên kể từ tháng 9/2022. Đương đầu với áp lực từ sức mạnh của bạc xanh, đồng yên Nhật tiếp tục bấp bênh dưới ngưỡng tâm lý 152 yên đổi 1 USD – một mốc tỷ giá có thể dẫn tới động thái can thiệp từ nhà chức trách.
Số liệu từ Viện Quản lý nguồn cung Mỹ (ISM) cho thấy sản lượng của sản xuất công nghiệp ở Mỹ đã tăng trở lại và số lượng đơn hàng mới cũng tăng, dù nhu cầu nhân lực tại các nhà máy còn yếu và giá cả đầu vào cao hơn. Đây là lần đầu tiên lĩnh vực sản xuất của Mỹ – chiếm 10,4% nền kinh tế nước này – đạt được sự tăng trưởng sau khi giảm liên tiếp 16 tháng. Đó là chuỗi tháng giảm dài nhất kể từ đợt giảm kéo dài từ tháng 8/2000-1/2002, hãng tin Reuters cho hay.
GIẢM SÚT KỲ VỌNG FED GIẢM LÃI SUẤT
Được tiếp sức từ số liệu khả quan về ngành sản xuất Mỹ, chỉ số Dollar Index đo sức mạnh đồng USD so với một rổ gồm 6 đồng tiền chủ chốt khác tăng hơn 0,5% trong phiên đầu tuần, đạt mức hơn 105 điểm.
“Dữ liệu từ ISM có tính chỉ báo cao, và số liệu lần này cho thấy lạm phát sẽ không giảm liên tục. Tôi cho rằng thị trường đang phản ứng với điều đó”, chuyên gia Eugene Epstein của công ty Moneycorp nhận định với Reuters.
Báo cáo về ngành sản xuất là một nguyên nhân khiến thị trường cắt giảm khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) cắt giảm lãi suất trong cuộc họp tháng 6.
Trong ngày giao dịch đầu tiên của tháng 4, thị trường lãi suất tương lai đặt cược xác suất 58% rằng ngân hàng trung ương Mỹ sẽ cắt giảm lãi suất tại cuộc họp tháng 6 – theo công cụ FedWatch Tool của sàn giao dịch CME. Tuần trước, khả năng này có thời điểm đạt hơn 70%.
Một nguyên nhân khác khiến kỳ vọng trên giảm xuống là dữ liệu lạm phát. Hôm thứ Sáu – khi thị trường tài chính Mỹ đóng cửa nghỉ lễ Good Friday – Bộ Thương mại Mỹ công bố báo cáo chỉ số giá tiêu dùng cá nhân (PCE). Báo cáo cho thấy PCE lõi – thước đo lạm phát được Fed ưa chuộng – tăng 2,8% trong tháng 2 so với cùng kỳ năm ngoái, một mức tăng phù hợp với dự báo nhưng vẫn còn cao hơn đáng kể so với mục tiêu lạm phát 2% của Fed.
Ngoài ra, Chủ tịch Fed Jerome Powell trong một bài phát biểu hôm thứ Sáu khẳng định quan điểm Fed sẽ không vội vã trong việc giảm lãi suất.
“Tôi không cho rằng số liệu PCE hôm thứ Sáu sẽ làm thay đổi mạnh mẽ toan tính của Fed. Tuy nhiên, các số liệu này khiến thị trường dịch chuyển lại gần hơn với Fed trong kỳ vọng về số lần giảm lãi suất và thời điểm mà Fed có thể bắt đầu cắt giảm lãi suất trong năm nay”, nhà giao dịch Helen Given thuộc công ty Monex USA nhận định.
Tâm điểm chú ý của giới đầu tư đang hướng tới đồng yên, khi đồng tiền của Nhật Bản trượt về mức thấp nhất kể từ năm 1990, đặt ra khả năng Tokyo có động thái can thiệp.
Hôm thứ Tư tuần trước, đồng yên đã chạm mức 151,975 yên đổi 1 USD, thấp nhất 34 năm. Đầu giờ sáng ngày 2/4 tại thị trường châu Á, đồng yên giao dịch ở mức 151,655 yên đổi 1 USD – theo dữ liệu từ Reuters.
Lần gần đây nhất Bộ Tài chính Nhật Bản và Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) can thiệp để chặn đà giảm của đồng nội tệ là vào tháng 9-10/2022, khi đồng yên trượt giá về gần ngưỡng 152 yên đổi 1 USD.
Kế hoạch của nhà chức trách Nhật đối với đồng yên vẫn là một điều khó đoán định. Do năm tài khoá ở nước này đã kết thúc, nên cơ quan chức năng sẽ không phải lo lắng về chuyện biến động tỷ giá ảnh hưởng tới bảng cân đối kế toán.
ĐỒNG YÊN VẪN Ở VỊ THẾ BẤT LỢI
Tuy nhiên, thông tin về cuộc họp khẩn cấp của 3 cơ quan tiền tệ gồm Bộ Tài chính Nhật, BOJ và Cơ quan Dịch vụ Tài chính (FSA), cùng phát biểu của giới chức Nhật, đến nay vẫn ghìm tỷ giá yên ở mức thấp nhất 34 năm. Ngày 1/4 và 2/4, Bộ trưởng Bộ Tài chính Nhật bản Shunichi Suzuki đều tuyên bố ông không loại trừ bất kỳ biện pháp nào để chống lại biến động quá mức của tỷ giá và sẽ đưa ra phản ứng phù hợp.
“Chúng tôi đang theo dõi cẩn trọng diễn biến hàng ngày trên thị trường. Chúng tôi theo dõi diễn biến tỷ giá với một tinh thần cấp bách cao độ”, ông Suzuki nói tại một cuộc họp báo sau cuộc họp nội các thường kỳ sáng 2/4.
Đồng yên duy trì xu hướng giảm giá dù BOJ đã chấm dứt chính sách lãi suất âm. Một nguyên nhân khiến đồng tiền này khó hồi phục là lãi suất ngắn hạn của BOJ vẫn gần 0, dẫn tới khoảng cách chênh lệch lớn giữa lãi suất của Nhật với các nền kinh tế lớn khác như Mỹ hay châu Âu. Năm nay, đồng yên đã mất giá 7% so với USD, trở thành đồng tiền giảm giá mạnh nhất trong nhóm tiền tệ G10.
Ông Suzuki nói rằng chính sách tiền tệ chỉ là một trong số nhiều yếu tố ảnh hưởng đến diễn biến tỷ giá, bên cạnh các yếu tố như cán cân tài khoản vãng lai của mỗi quốc gia, diễn biến giá cả, rủi ro địa chính trị, tâm lý thị trường và động thái đầu cơ. “Điều quan trọng là tỷ giá tiền tệ phải ổn định và phản ánh các yếu tố cơ bản của nền kinh tế. Biến động quá mức là điều không mong muốn”, vị Bộ trưởng nói.
Ông Suzuki từ chối bình luận khi được hỏi liệu Nhật Bản sẽ can thiệp mạnh mẽ bằng một động thái duy nhất để khiến các nhà đầu cơ tiền tệ phải từ bỏ vị thế bán khống đồng yên, hay tiến hành can thiệp từng bước để giảm bớt mức độ biến động của tỷ giá.
“Nhà chức trách có vẻ lo ngại về mốc 152 yên đổi 1 USD. Biểu đồ kỹ thuật cho thấy trong dài hạn, đây là một ngưỡng kháng cự mạnh. Tôi không cho là họ sẽ phản ứng nếu đồng yên trượt dần qua mốc 152 yên đổi 1 USD. Nhưng một cú giảm mạnh qua mốc này về phía 154-155 yên/USD có thể sẽ dẫn tới can thiệp”, chiến lược gia trưởng về ngoại hối toàn cầu của ngân hàng đầu tư Jefferies, ông brad Bechtel, nhận định với hãng tin Bloomberg.
Tuần này có nhiều số liệu kinh tế Mỹ có thể ảnh hưởng đến diễn biến tỷ giá đồng USD, bao gồm số công việc cần tuyển dụng trong tháng 3, dự kiến công bố vào ngày thứ Ba, và báo cáo việc làm tổng thể tháng 3, dự kiến công bố vào ngày thứ Sáu
Welcome to WordPress. This is your first post. Edit or delete it, then start writing!
